Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012
Nhớ lại trò chơi “cảm giác mạnh” của lính Trỗi
Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012
Các tộc người ở TQ
Chúng ta đều biết lá cờ của TQ có 5 ngôi sao (chứ không phải 6 như cán bộ nào đó đã từng “lầm lẫn”) thể hiện 5 dân tộc lớn đang sống trên đất TQ. Lớn nhất tất nhiên là người Hán rồi (sẽ trình bày sau) và 4 dân tộc lớn tiếp theo là:
1. Dân tộc Mông có hơn 5,8 triệu người, chủ yếu sống ở khu tự trị Nội Mông và các châu, huyện tự trị ở các tỉnh, khu tự trị như Tân Cương, Thanh Hải, Cam Túc, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh v.v. Đây chính xác là dân Mông Cổ tách ra gắn liền vào TQ sau khi Thành Cát Tư Hãn chiếm TQ.
2.Dân tộc Tạng có khoảng 5,4 triệu người chủ yếu ở khu tự trị Tây Tạng. Đó là một dân tộc có từ lâu đời trên cao nguyên Thanh Tạng. Dân này có ngôn ngữ tương tự Miama.
3.Dân tộc Mãn phân bố tại các địa phương toàn quốc, trong đó sống tập trung nhiều nhất tại đông bắc. Bọn này gốc là các bộ tộc Nữ Chân từng lập ra nhà Kim và sau này là nhà Mãn Thanh chiếm cứ TQ và bị Hán hóa.
4.Dân tộc Hồi - bọn này có nguồn gốc là dân Ả-rập và Iran đến định cư và hòa nhập với người Hán, bởi vậy có nhiều người theo cái tôn giáo có nét giống đạo Hồi – Islam. Dân tộc này có hơn 9,8 triệu người chủ yếu sinh sống tại khu tự trị Hồi Ninh Hạ tây bắc TQ. Các nơi khác ở TQ cũng có nhiều dân Hồi sống tập trung và tản mát, có thể nói dân tộc Hồi là dân tộc thiểu số phân bố rộng nhất TQ.
Ngoài ra còn có 52 dân tộc khác bị coi là thiểu số nhưng một số trong đó có số dân không thua gì mấy dân trên. Gồm:
Dân tộc Choang là dân tộc đông nhất trong các dân tộc được gọi là thiểu số TQ, chủ yếu sinh sống tại khu tự trị Choang Quảng Tây. Quế Lâm là thủ phủ của khu này. Dân này nói tiếng y như dân Tày của xứ mình nên hồi đó Chu tày k6 nói chuyện với tụi tàu thoải mái (trừ mấy từ tân tiến như: XHXH, CMVH …là khác)
Dân tộc Duy Ngô Nhĩ (còn gọi là Uyghur) có khoảng 8,4 triệu người sống chủ yếu ở khu tự trị Tân Cương, nơi còn gọi trong các sách cổ là Tây Vực. Tụi này có nòi giống lai Âu-Á, mũi cao, da trắng. Trước khi bị nhà Thanh xâm chiếm, từng có quan hệ với Đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ).
Dân tộc Mèo có gần 9 triệu người, chủ yếu tập trung tại Quý Châu, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Đông. Tụi này từng có quan hệ mật thiết với người Mèo VN vì thật ra chẳng khác gì nhau.
Dân tộc Di có hơn 7,7 triệu người chủ yếu phân bố tại Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây. Đây vốn là các bộ tộc được gọi là dân Chi, dân Khương từ miền Bắc di chuyển xuống phương Nam và hòa nhập với các bộ tộc phía Nam mà hình thành dân tộc mới.
Và 48 dân tộc khác là: Triều Tiên, Hách Triết, Đạt Hàn Nhĩ, Ha Ni, Thái, Ly Su, Ngoã, La Hu, Nạp Tây, Cảnh Pha, Ngạc Luân Xuân, Đông Hương, Thổ, Tát Lạp, Bảo An, Dụ Cố, Ca Dắc, Kan Kát, Tích Bá, Tát Gích, U Dơ Bếch, Nga, Tác Ta, Môn Ba, Lạc Ba, Khương, Bạch, Bố Lãng, A Xương, Phổ Mễ, Nộ, Độc Long, Đức Ngang, Cơ Nặc, Miêu, Bố Y, Động, Thuỷ, Kơ Lao, Dao, Mô Lao, Mao Nam, Kinh, Thổ Gia, Lê, Xa, Cao Sơn, Ngạc Ôn Khắc. Tụi này thì thiểu số thiệt.
Tuy các dân tộc gọi là phân bổ như vậy, nhưng thực tế dân Hán hiện nay sinh sống tràn lan và lấn át trong khắp các vùng được gọi là của dân tộc khác. Có thể thấy ở Khu tự trị Nội Mông được gọi là của người Mông và khu Hồi Ninh Hạ của người Hồi, thì người Hán ở đây chiếm tới 97%, Khu tự trị Choang Quảng Tây cũng có tới 62% là người Hán, vùng Tây Bắc TQ được coi là nơi gốc gác của dân Mãn thì người Mãn cũng chỉ có khoảng 7% dân số!
Vây còn dân tộc Hán thì sao? Dân Hán đông nhất - khoảng 1,2 tỷ người - chiếm hơn 91% dân số TQ. Thực ra dân Hán vốn có nhiều nguồn gốc khác nhau bắt nguồn từ các thị tộc Cửu Lê, Tam Miêu, Viêm Đế Thị, Hoàng Đế Thị, … sinh sôi nảy nở trong vùng Trung Nguyên và cho mãi tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất TQ, họ mới hòa hợp với nhau tạo thành dân Hoa Hạ rồi cho tới sau khi hòa hợp với dân Mông thời nhà Nguyên mới hình thành cái dân tộc mà họ tự gọi là Hán. Và vì thế dân Hán không phải là một dân tộc thuần nhất mà có bao gồm 8 tộc người chính (còn các tộc nhỏ không tính) vì họ có ngôn ngữ không giống nhau, khi nói chuyện không hiểu nhau và có sự khác biệt văn hóa rất rõ nét. Ngay các món ăn Hán cũng mang đặc thù “Nam ngọt, Bắc mặn, Đông cay, Tây chua” với các hệ món ăn lớn là Hồ Nam, Tứ Xuyên, Đông bắc, Quảng đông, Giang Tô, Phúc Kiến, …
8 tộc dân Hán bao gồm:
1. Đông nhất là dân Hán sống ở khu vực rộng lớn từ phía bắc kéo dài tới tây nam TQ tạm gọi theo ngôn ngữ của họ là người Hán Quan Thoại (tiếng nói của quan). Dân này có khoảng 867,2 triệu người hiện đang thống trị toàn bộ TQ. Dân này tự coi mình là trung tâm (Trung Quốc: nước trung tâm) còn xung quanh là Nam Man, Đông Di, Tây Mọi, Bắc Rợ.
2. Tiếp đến là dân Hẹ (hay còn gọi Gia Khách hay Hakka). Đây chính là một bộ phận người Hán cổ không chịu đồng hóa với các dân tộc khác nên đã lần lần di chuyển xuống miền Nam. Tới nay họ sống chủ yếu ở một phần Quảng Đông, tây Phúc Kiến, Giang Tây, nam Hồ Nam, Quảng Tây, nam Quý Châu, đông nam Tứ Xuyên, các đảo Hải Nam và Đài Loan. Dân tộc này có khoảng 34 triệu người.
3. Dân Ngô sống ở Thượng Hải, phần lớn tỉnh Triết Giang, miền Nam tỉnh Giang Tô, tỉnh Giang Tây, một phần Phúc Kiến và phía Bắc Hồng Kông. Dân số khoảng 77 triệu người.
4. Dân Tương hầu hết sống ở Hồ Nam, có khoảng 67 triệu người. Mao chính là người dân này.
5. Dân Quảng Đôngcó khoảng 71 triệu người sống tại các vùng Đông Nam của Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao. Ngôn ngữ của dân này gọi là “Việt ngữ”. Đây chính là dân “Bách Việt” mà nhiều người cho là “bà con” với dân mình.
6. Người Mân Nam thuộc tộc người Mân. Người Mân được chia chủ yếu thành 2 loại lớn là Mân Nam và Mân Bắc (vì thật ra còn có Mân Đông, Mân Tây nữa). Người Mân Nam sống chủ yếu tại Phúc Kiến, khu vực Sán Đầu (Triều Sán – Triều Châu), bán đảo Lôi Châu ở tỉnh Quảng Đông, cực Nam của tỉnh Triết Giang, phần lớn Đài Loan và phần lớn Hải Nam. Họ có 49 triệu người. Đây là tộc người di cư nhiều nhất. Rất nhiều người Mân Nam hiện sống tại các nước Đông Nam Á. Người Tiều ở Chợ Lớn là dân này.
7. Dân Mân Bắc: Tuy gọi là Bắc, nhưng dân này sinh sống ở miền Trung và Nam tỉnh Phúc Kiến. Dân số khoảng 10,3 triệu.
8. Người Cám sinh sống tại miền Trung và Bắc Giang Tây, miền Đông Hồ Nam, An Huy và Hồ Bắc. Họ có khoảng từ 30 triệu người.
Như vậy, nếu chỉ tính các tộc người lớn thi ở TQ có 16 tộc người có ngôn ngữ, văn hóa khác nhau còn chính trị thì đều do dân Hán Quan Thoại giống như người Nga ở Liên Xô trước kia vậy.
17/02/1979
Chúng tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh - Sáng tác: Phạm Tuyên
Lê Đình Chinh sinh năm 1960, quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trú quán tại Nông trường Sông Âm (huyện Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa).
Khi hy sinh, đồng chí là Thượng sĩ, Tiểu đội trưởng, Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), Đoàn viên Đoàn TNCSHCM).
Ở gia đình Lê Đình Chinh là người con ngoan, ở Trường Phổ thông Lê Đình Chinh là học sinh giỏi toàn diện, là đội viên tốt. Lê Đình Chinh luôn luôn gương mẫu, hăng hái phấn đấu, rèn luyện tốt, được mọi người rất quý mến. Được vào Lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Lê Đình Chinh học tập, rèn luyện hăng say, luôn luôn nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, trưởng thành nhanh chóng và vững chắc.
| Lính TQ (mũ vải) khiêu khích Bộ đội ta tại khu vực biên giới |
Ngày 25/8/1978, hàng chục tên côn đồ đã vượt biên giới sang đất ta hành hung cán bộ, phụ nữ và nhân dân địa phương. Lê Đình Chinh đã mưu trí tấn công địch, bằng tay không đánh gục hàng chục tên côn đồ góp phần tích cực cùng đơn vị và nhân dân biên giới giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực Biên phòng ải Bắc.
Lê Đình Chinh đã anh dũng hy sinh, nêu gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã kịp thời tuyên dương công trạng và truy tặng đồng chí Huy hiệu "Vì thế hệ trẻ"; phát động trong thế hệ trẻ Việt Nam phong trào "Sống, chiến đấu rực lửa Anh hùng như Lê Đình Chinh".
| Lính TQ đe dọa phóng viên ghi hình hành động khiêu khích |
Cụ thể hơn về trường hợp hy sinh của Thượng sĩ Lê Đình Chinh, tài liệu từ BĐBP cho biết:
Ngày 12/7/1978, phía Trung Quốc đột ngột ra lệnh đóng Cửa khẩu. Từ đó, số người Hoa bị chặn lại ứ nghẽn ở các Cửa khẩu ngày càng đông (Bắc Luân hơn 1.000 người; Hữu Nghị hơn 4.000 người; Lào Cai 500 người). Họ sống trong cảnh "màn trời, chiếu đất" gây nhiều khó khăn cho ta trong việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, vấn đề giải tỏa người Hoa ở các Cửa khẩu trở thành nhiệm vụ cấp bách.
Ngày 8/8/1978, ta thực hiện kế hoạch giải tỏa người Hoa ở Cửa khẩu Bắc Luân (Quảng Ninh).
Đúng 9 giờ 25 phút, Đội Công tác (gồm 25 chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang, 13 đồng chí Cảnh sát nhân dân, 6 cán bộ Y tế và các Phóng viên báo chí quay phim, nhiếp ảnh) lên cầu giải thích, vận động người Hoa quay trở lại sinh sống ở Việt Nam.
| Biên phòng VN (phải) và Biên phòng TQ (trái) |
Đến 10 giờ 10 phút, cả 700 người Hoa ùn tắc tại Cửa khẩu kéo nhau chạy về bên kia cầu. Tình hình khu vực cửa khẩu Bắc Luân được kiểm soát.
Tại khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị, đến đầu tháng 8/1978, số người Hoa ùn lại đã lên tới trên 4.000 người. Họ dựng lán bừa bãi ở khu vực cấm, ăn ở rất mất vệ sinh. Bọn phản động trong số người Hoa chuẩn bị gây rối trật tự trị an ở khu vực cửa khẩu.
Kiên quyết không để tình trạng này kéo dài, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Cao Lạng quyết tâm giải toả toàn bộ số người Hoa đang ùn lại Cửa khẩu.
| Gián điệp TQ bị bắt giữ, 1978-1979 |
Ban "Giải toả người Hoa" được thành lập. Tỉnh ủy Cao Lạng huy động lực lượng Công an nhân dân vũ trang cùng các lực lượng khác ở địa phương phối hợp tham gia kế hoạch giải toả, lấy lực lượng Đồn Biên phòng Hữu Nghị và Trung đoàn 12 (Đoàn Thanh Xuyên) làm nòng cốt.
Thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Đảng đoàn Bộ Nội vụ, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang cử đồng chí Đại tá Trịnh Trân, Tham mưu trưởng lên Lạng Sơn trực tiếp chỉ đạo giải tỏa ở khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị.
Rút kinh nghiệm từ việc đấu tranh giải toả người Hoa ở Bắc Luân, ngày 25/8/1978, ta thực hiện kế hoạch giải toả Cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn).
| Thám báo TQ đột nhập qua biên giới, bị BĐBP bắt giữ |
Lực lượng bảo vệ của ta do đồng chí Hứa Viết Pháy chỉ huy đã dũng cảm bảo vệ đoàn Cán bộ, quật ngã hàng chục tên côn đồ, chặn đường tiến công của chúng, tạo điều kiện cho các đồng chí của mình đưa đoàn Cán bộ Dân vận xuống chân đồi.
Từ bên kia biên giới, bọn côn đồ lại ùn ùn kéo sang. Trên đỉnh đồi, hàng trăm tên côn đồ và Công an H1 (?) vẫn đứng đông đặc.
| Thi thể Lê Đình Chinh |
Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra rất các liệt trên sườn đồi Pò Tèo Hào ở sát Cửa khẩu Hữu Nghị.
Một Tiểu đội thuộc Đại đội 6 Trung đoàn 12 do Tiểu đội trưởng Lê Đình Chinh chỉ huy, cùng các chiến sĩ lao thẳng lên đồi Pò Cốc Phung, bằng gậy gộc, gạch đá lấy được của địch, các chiến sĩ ta đánh gục hàng chục tên côn đồ hung hãn.
Đại đội trưởng Nguyên dẫn đầu một tổ, đánh dạt bọn côn đồ lên trận đỉnh đồi, đánh gục tên cầm loa làm cho hắn ngã lăn xuống tận sườn đồi bên kia.
Tiểu đội trưởng Lê Đình Chinh vượt qua trận mưa gạch đá, xông vào đánh gục 4 tên côn đồ, cứu được bà Thuận đang nằm ngất xỉu sau một tấm sạp.
Giữa vòng vây của đối phương, Lê Đình Chinh nghe tiếng kêu cứu của đồng đội Lê Xuân Tước, anh quay ngoắt lại, xông vào đánh gục 5 tên côn đồ đang vây chặt lấy Tước, cứu Tước thoát nạn.
| Trao tặng chân dung và tiền úng hộ cho mẹ LS Lê Đình Chinh |
Giữa trưa, Ban Chỉ đạo gồm các đồng chí: Trường Minh (Bí thư Tỉnh ủy Cao Lạng), Trung tướng Đàm Quang Trung (Tư lệnh Quân khu 1), Đại tá Trịnh Trân (Tham mưu trưởng Công an nhân dân vũ trang) đang họp thì nghe tin xảy ra xung đột lớn ở khu vực Cửa khẩu Hữu Nghị.
Đồng chí Trịnh Trân lập tức lên trực tiếp chỉ đạo đấu tranh và quyết định điều gấp Trung đoàn 12 lên chi viện, quyết chiếm lại điểm cao Pò Cốc Phung. Đúng 15 giờ, lực lượng chi viện của ta nhất loạt xông lên.
Tiếng hô "xung phong" vang dậy núi rừng biên cương. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 dũng mãnh xông lên, đánh thẳng vào các điểm chốt đối phương, chiếm giữ trái phép trên các ngọn đồi.
| Anh hùng - Liệt sĩ Lê Đình Chinh |
Ngay lập tức, cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang dàn thành một hàng ngang, dùng những vật liệu đã chuẩn bị sẵn như dây thép gai, gạch đá, chông, mìn rào chặt biên giới.
Lúc 17 giờ 25 phút, lá cờ đỏ sao vàng của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 12 được kéo lên đỉnh đồi Pò Cốc Phung - nơi Lê Đình Chinh vừa mới hy sinh.
-----------------------------------------------------
Thơ mới của Sùng Hải, xuân 2012
Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012
Sự kiện và bình luận - TIÊN LÃNG nóng và lạnh
Vụ Đoàn Văn Vươn qua ý kiến của một nông dân Tiên lãng
Huyện cũng không ban ơn cho các chủ đầm 7 năm không phải đóng thuế vì điều này được ghi trong luật thuế của nhà nước “Miễn thuế khoai hoang dùng vào sản xuất …. Riêng đối với đất khai hoang ở miền núi, đầm lầy và lấn biển : 7 năm“.
Đã làm quan là phải đàng hoàng!
"Trải qua nhiều đời lãnh đạo, Hội An tự hào vì một đội ngũ lãnh đạo trong sạch. Chưa có một đồng chí nào lợi dụng chức quyền lấy một tấc đất của dân. Bộ máy chính quyền hoạt động trơn tru nhờ không ai lợi dụng việc công sách nhiễu, tước đoạt của dân.…ĐỌC TIẾP
