Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2012

Chuyện “lạ” về cảnh sát giao thông rất... lịch sự ở Đà Nẵng

Chuyện này chắc phải nhờ BS Học xác nhận.
“Chuyện không lạ của CSGT Đà Nẵng đang là chuyện lạ ở nhiều địa phương trong cả nước”
“Nhiều người cho rằng, một việc đáng ra là rất bình thường so với chức trách, nhiệm vụ của CSGT thì bây giờ lại thành một chuyện lạ, một điển hình để người dân mong muốn CSGT nơi mình sinh sống noi theo”
(Dân Việt) - “Hôm từ Đà Nẵng đi Hội An, tôi đi nhầm trên cầu cấm ô tô còn được anh CSGT nhắc nhở, dẫn đường đi ngược lại. Nhiều tỉnh, thành phố khác mà thế chắc chắn sẽ bị phạt”...XEM TIẾP

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

K6 SAIGON HỌP MẶT

Hôm rồi khóa 6 saigon họp mặt. Lần gặp này có đặc biệt hơn mấy lần khác. Cao Bình nhớ thời bao cấp muốn trổ tài nấu nướng cho AE thưởng thức nên đã làm 1 con cầy với mấy con gà (giành cho những người ko ăn cầy). AE tụ tập đông vui, có sự góp mặt của Thanh Trung và Tình mốc từ HN vô. Mời AE xem đoạn clip sau để phần nào biết được không khí của hôm đó. Còn zdui hơn nhiều, nhưng vì người quay zdui  quá quên quay!


Chuyện lạ đó đây: Người đàn ông sở hữu 'của quý' nặng 45 kg

Anh Wesley tin rằng, anh cảm thấy điều gì đó bất thường ở chỗ nhạy cảm của mình từ năm 2008. Tinh hoàn của anh bắt đầu “trưởng thành” ngoài sức tưởng tượng chỉ sau một đêm, chúng to bằng trái bóng đá vậy. “Tôi không cảm thấy đau đớn. Nó chỉ như một viết bắn nhẹ sượt qua người tôi vậy.

Anh Wesley Warren Jr, đến từ Mỹ, buồn bã chia sẻ, anh cần một triệu USD để thực hiện ca phẫu thuật cắt bỏ “của quý” nặng tới gần 45 kg của mình.
XEM TIẾP

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2012

Nghẹn!

Sau những thất thoát về kinh tế của những doanh nghiệp Nhà nước dưới sự điều hành của Chính phủ, đọc bài "Nghèn nghẹn 'phố cơm không' giữa Sài thành" dưới đây quả thực cũng thấy nghẹn thật.
Nguồn: nguoiduatin.vn
 - Chiếc lưng khòm của bà cụ khoảng 60 tuổi lên xuống nhịp nhàng theo từng động tác đạp xe giữa cái nắng gắt Sài Gòn. Bà dừng xe bằng đôi chân đã lốm đốm đồi mồi trước cái biển "Bán cơm không" và nói: "Bán tôi 2.000 đồng cơm trắng", giọng bà nghẹn trong hơi thở.

Bỏ bọc cơm vào giỏ xe, bà lại cố sức đạp xe hòa vào dòng người trên tay vẫn nguyên xấp vé số dày cộm. Bà cụ là một trong vô số những người nghèo chỉ mơ tới cơm trắng ở gần ga Sài Gòn mà không bao giờ dám liếc nhìn mấy tiệm cơm bình dân chứ chưa nói đến nhà hàng, cao lầu.
Cơm trắng, dưa mắm Sài Gòn
Khách hàng suốt 12 năm qua của chị Hồng, chủ một xe cơm trắng trên đường Nguyễn Thông, quận 3 là những con người lam lũ như bà lão bán vé số trên. Mỗi ngày, chị Hồng dậy từ bốn, năm giờ sáng, loay hoay chuẩn bị gạo, nấu nướng rồi vợ chồng hì hục đẩy xe cơm trắng ra gần cổng ga Sài Gòn, bán từ sáng cho đến đêm muộn. Chị Hồng cho biết: "Bán được nhất là vào giữa trưa. Vì với người nghèo, bữa sáng thì không ăn rồi, ăn bữa trưa cho no để có sức mà làm tới chiều tối".

"Cửa hàng" của chị Hồng là chiếc xe đẩy, đầy ắp mấy nồi hấp cơm trắng, thêm hai bình gas loại 12kg vừa đủ diện tích chiếc xe con tự chế. Nhiều xe còn kèm thêm vài hũ dưa mắm, cải chua được ngâm ướp tỉ mỉ dùng để ăn kèm với cơm trắng cho đỡ nhạt miệng. Phố cơm trắng không bao gồm những dãy nhà san sát mà chỉ có mấy chiếc xe đẩy thô sơ kê bán gần nhau. Thế nhưng, vào những buổi trưa, nơi đây đúng là "thiên đường ẩm thực" của người nghèo. Theo đó, bảng hiệu của những "cửa hàng cơm trắng" trên là những mảnh bìa các-tông cắt từ giấy thùng mì gói, được bọc nilon cẩn thận để chống chọi với mưa nắng. Mấy chiếc xe đẩy tránh nắng dưới chiếc dù run lên bần bật sau mỗi đợt gió thốc.
Người bán cơm trắng nhiều khi không cần phải thuê mặt bằng, cứ đẩy xe đến một khoảng trống, che dù lên, treo bảng "bán cơm". Vậy là xong ! Mỗi người vài cái nồi, mỗi nồi nấu khoảng chục ký gạo. Lúc nào mở nắp nồi ra, khói nóng cũng bốc lên nghi ngút, ấm lòng những con người bươn chải giữa dòng đời chìm nổi.
Người bán cơm trắng trên con phố gần ga Sài Gòn không bao giờ mơ ước giàu lên bằng nghề này. Bởi chính họ chứ không ai khác hiểu hết cái khó cái khổ của kẻ nghèo. Những ký cơm trắng họ bán đi mang theo niềm hy vọng no ấm cho người đồng cảnh ngộ. Mỗi ký cơm trắng, người bán chỉ lãi từ được 500 - 1.000 đồng nên không đủ tiền thuê nhân công. Đa số người bán cơm trắng chỉ lấy công làm lãi.
Tuy thế, nghề này cũng không mấy lúc được thảnh thơi. Nhìn những xe hàng của họ tuy đơn giản chỉ  là bán cơm trắng nhưng cũng thức khuya dậy sớm, cũng nặng nhọc vất vả. Giá gạo, giá gas biến động không ngừng, mấy người bán cũng trầy trật chứ đừng nói kẻ mua. Chị Hồng chia sẻ: "Mỗi lần tăng giá cơm là tôi thấy xót ruột ghê lắm. Tôi không sợ mất khách hàng đâu mà chỉ sợ lại thêm nhiều người nghèo không đủ tiền ăn cơm hay phải bớt tiền gửi về nhà cho người thân. Công nhân, lao động nghèo, sinh viên ít tiền lắm, xài một đồng là họ tính nát cả óc". Mỗi cân gạo nấu thành hai cân cơm trắng, gạo ngon bán 18.000-20.000 đồng/kg, nhưng chủ yếu là gạo thường chỉ có giá 12.000 đồng/kg. "Khách hàng của chúng tôi chỉ cần no chứ chưa cần ngon", chị Hồng chân thành chia sẻ thêm.

Những phận đời trôi nổi
Trôi theo những phận đời bươn chải, phố cơm trắng định hình hơn mười năm qua trên con đường Nguyễn Thông dẫn vào ga Sài Gòn, nơi đến và đi của biết bao mảnh đời muôn sắc thái. Những con người xem ga tàu là chốn mưu sinh thường tìm đến phố cơm trắng để mua vội bữa trưa giản dị đến thương tâm. Nấm cơm trắng ăn vội với chút nước mắm hay dưa cải mà không phải mất nhiều tiền, đã tiếp sức mấy lượt khách hàng nghèo khó của phố cơm trắng dung dị giữa Sài thành hoa lệ.
Bao giờ thôi "giấc mơ cơm trắng"?
Một cân cơm trắng thấp nhất có giá 8.000 đồng, đủ cho ba người ăn. Mỗi bữa cơm một người chỉ mất khoảng 3000 đồng thay vì 15.000 đồng một phần cơm bình dân. Phép toán đơn giản của người nghèo giúp họ đứng vững và tồn tại ở mảnh đất cạnh tranh gay gắt và con người luôn phải nỗ lực để đi lên. Một ngày chị Hồng đã bán khoảng 450kg cơm trắng, kể thêm những xe cơm khác, mỗi ngày cũng khá nhiều người lao động nghèo no bụng. Người ta kinh doanh hàng cơm, phần lãi chủ yếu nhờ vào thức ăn, nên khi công nhân đến mua cơm không ở các tiệm bình dân thường nhận được những cái lắc đầu không bán. Người nghèo lại bươn bả chạy ra ga Sài Gòn mua vội ít cơm trắng ăn với dưa mắm cho kịp giờ nghỉ trưa.
Nhiều người dân sinh sống gần khu vực luôn thắc mắc "lấy đâu ra lắm người thích ăn cơm trắng mà phố cơm lúc nào cũng tấp nập". Riêng chị Hân thì biết lý do tại sao: "Tụi chị chủ yếu bán cho người lao động nghèo và sinh viên, đừng nghĩ ở thời điểm này ai ăn cơm bình dân đã là nghèo khổ, còn lắm kẻ khổ hơn ngày nào cũng tìm đến đây mong đủ tiền mua ký cơm trắng, bữa nào dư dả thì mua thêm dưa mắm ăn kèm".
Cái cách thằng bé bán báo lôi ra từng tờ bạc lẻ nhăn nhúm rồi kéo cho thẳng thớm đưa cho chị bán cơm trắng, một sự trân trọng có xen chút tiếc rẻ, mấy ai có thể chê bai chén cơm trắng nóng hổi thơm lừng. Mặc dù, không có sự màu mè của thức ăn, không cay ngọt của gia vị nhưng cơm trắng có cái ấm áp mà lắm kẻ nghèo luôn cố đeo bám. Tồn tại song hành trong không gian Sài thành hoa lệ, những con người gặp nhau không kịp chào, sáng sớm cà phê, trưa nắng gắt lao vào nhà hàng máy lạnh, chiều tối, ngồi gác chân theo điệu nhạc du dương lại có những con người vất vả mưu sinh để chỉ mong có được cái vị ngọt thanh tao của hạt cơm trắng nơi phố ga tàu.

Một góc phố cơm trắng ở Sài Gòn.
Những con người luôn mơ đến cơm trắng thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, có thể là anh xe ôm, chị bán hàng rong, vài đứa trẻ bán báo, đánh giày hay những trí thức nghèo đang theo đuổi con đường học vấn. Nguyễn Thanh Hương (sinh viên trường đại học Sư phạm TPHCM) cầm bịch cơm trắng trên tay, nở nụ cười chia sẻ: "Quê em ở Lâm Đồng, cha mẹ ở nhà làm thuê cho người ta, mỗi tháng chỉ gửi cho em khoảng vài trăm trang trải việc học. Em phải để giành phần lớn trong số tiền đó mua sách vở, tài liệu, ăn uống dè sẻn lại chút đỉnh. Ăn cơm trắng cũng ngon mà rẻ nữa, không mất công nấu, khỏi mất thêm tiền điện tiền ga".
Anh Dương Công Tiến chạy xe ôm ở ga Sài Gòn vừa nuốt vội nắm cơm trắng vừa mời khách đi xe: "Ăn cơm trắng cho lành bụng và rẻ tiền nữa, tiền dư ra gửi về quê cho mấy đứa con đi học". Khách tới đi xe, anh Tiến vội vã gói gém bịch cơm trắng đang ăn dở treo vào móc xe rồi lao vào con đường đông nghẹt giữa trưa nóng bức.
Chị Liên bị liệt hai chân bán vé số dọc con đường Lý Thái Tổ thường tìm đến phố cơm trắng để mua vội bịch cơm trắng. Chị khoe hôm nay bán được nhanh nên tự thưởng cho mình thêm vài ngàn dưa mắm ăn kèm, thường khi chỉ chan nước mắm vào rồi cắm cúi ăn.
Người đến rồi đi, cầm trên tay bịch cơm trắng nhẹ tênh, đôi lúc có người áp bịch cơm vào mặt để cảm nhận cái nóng ấm đang lan ra từ mấy hạt cơm. Họ nghèo nhưng chưa bao giờ ngừng phấn đấu và chưa hẳn đã mủi lòng khi mỗi ngày chỉ ăn cơm không. Trong những hạt gạo trắng tinh khôi, xen lẫn tình người thật ấm áp và cảm động. Người bán, bán tình là chủ yếu. Người mua, mua cái nóng ấm của hạt gạo chan chứa tình người. Tôi ngồi giữa trưa nắng Sài Gòn ngắm những con người dung dị đó đang ăn trưa-một bữa trưa đơn giản nhất mà tôi từng biết. Bất chợt, tôi bỗng...thèm cơm trắng. Với tôi, đó là một bữa cơm đặc biệt, hơn cả một bữa ăn.                
Ngọc Lài

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Phim con heo

Ngày nghỉ cuối tuần mời các bác thư giãn

Nguồn: You Tube

Thứ Năm, 13 tháng 9, 2012

Phản động ư?

Nhờ cái công văn hỏa tốc 7169/VPCP-NC của Văn phòng Chính phủ (theo chỉ đạo của Thủ tướng) mới biết trang Web: biendong.net là một trong những trang bị Văn phòng CP cho là phản động. Nhưng đọc nó thì hoàn toàn không tin vào mắt mình, trang này là trang phản động?
Nguồn: biendong.net
Bố khỉ! không thể tin được! trang web lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt nam thì bị Văn phòng chính phủ liệt vào danh sách những trang phản động. Trang này chỉ đăng tin về những vấn đề Biển Đông và các âm mưu thâm độc của Trung Quốc. Chống lại sự bàng trướng của Trung quốc để bảo vệ chủ quyền biển đảo của VN là phản động sao??? Chắc rất nhiều người dân Việt có ước muốn, vinh dự được làm "phản động" để sống chết với Tổ quốc Việt nam.

Thứ Tư, 12 tháng 9, 2012

Về hồi ký của thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu

Đọc các ý kiến phản hồi bài dưới đây của các cựu chiến binh chiến trường Quảng trị, không biết mấy bác Trỗi - CCB Quảng trị có cảm giác thế nào?

CCB TRUNG ĐOÀN 27 PHẢN ỨNG HỒI KÝ CỦA THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN HUY HIỆU

NTT: Trên nhiều blog cá nhân, hiện đang đăng tải nhiều ý kiến và bài viết của các Cựu chiến binh Trung đoàn 27, đơn vị đã  chiến đấu 81 ngày ở thành cổ Quảng Trị 1972 phản ứng sự thiếu trung thực trong hồi ký “Một thời Quảng Trị” của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu – người đồng đội của họ. Người thì gọi hành động của họ là “nhặt sạn”, người thì cho rằng có sự “đạo văn và bịa sử”… Xin giới thiệu cùng bạn một số ý kiến dưới đây: 


ĐẠI TÁ – NHÀ GIÁO ƯU TÚ DƯƠNG DOÃN NGỤ:
Tôi về nghỉ hưu được mấy năm rồi, cũng chẳng có công việc gì bận rộn nên thường đọc sách và xem các thông tin, báo chí ở trên mạng làm thú vui để hiểu biết thêm về thời cuộc và sự phát triển trên mọi lĩnh vực của đất nước.
…Với tư cách là một nhân chứng lịch sử tôi muốn nói lại những gì mà chính anh  Nguyễn Huy Hiệu đã kể cho tác giả Lê Hải Triều viết cuốn sách “Một thời Quảng Trị” và tác giả Vương Hà viết 4 bài ký sự “kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4 đăng trên báo… Có thể nói rất nhiều nội dung không biết vô tình hay cố ý viết sai sự thật nhằm tô vẽ thành tích của mình cho xứng danh với cái quân hàm tướng.
Tôi lấy ví dụ thứ nhất:  Trong Chương 2: “Bắc Quảng Trị trong cuộc tiến công năm 1968” anh Hiệu kể: “Những trận đánh từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 3 năm 1968 ở làng Phúc Sa, là những trận chống càn đầu tiên của Trung đoàn 27 trên chiến trường Quảng Trị….Tiểu đoàn 3 đã có 97 cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh. Đến bây giờ, mỗi khi nghĩ đến anh em, lòng tôi vẫn đau thắt. Tôi xin ghi lại những cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 mà tôi còn nhớ, hy sinh ngày 11 tháng 3 năm 1968: Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Hiền, quê Mỹ Phong, Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; chiến sĩ Trần Minh Trường, quê Hội Ninh, Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Nguyên, sinh năm 1950, quê Trung Bá, Cẩm Nam, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh; chiến sĩ Hoàng Văn Biện, sinh năm 1949, quê Trường Hoa, Xuân Trường, Nghi Xuân, Hà Tĩnh; chiến sĩ Nguyễn Huy Trường, sinh năm 1949 quê Bình Bắc, Thạch Bình, Thạch Hà, Hà Tĩnh…v.v.v.
Anh em Đại đội 1 hy sinh đều được an táng tại làng Phúc Sa, xã Gio Hà”.
   Xin nói rõ:  Ở thời điểm này tôi xin khẳng định rằng: anh Hiệu chưa có mặt ở tiểu đoàn 3, trung đoàn 27, bởi vì lúc đó tôi là chiến sỹ trung đội 2, đại đội 3 được tăng cường cho đại đội 1 chiến đấu.  Và cũng là người suốt 3 đêm liền chúng tôi vào lấy tử sỹ đưa  về xóm Dừa  để cho đại đội vận tải làm công tác chôn cất tử sỹ. Nếu có ai đó còn nghi ngờ xin mời xem một đoạn “Tiểu sử” của anh Nguyễn Huy Hiệu viết ở điểm thứ 11 “Qúa trình tham gia cách mạng” như sau:
 -  Năm 1965 : nhập ngũ.
 - Từ tháng 2 năm 1965 đến tháng 5 năm 1965:  chiến sỹ Đại đội 2 Tiểu đoàn 44, Trung đoàn 812.
- Từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 4 năm 1967:  chiến sỹ liên lạc Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Đại đội 271.
Từ tháng 11 năm 1967 đến tháng 5 năm 1968: Tiểu đội trưởng, Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 271.
Từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 6 năm 1968: Trung đội phó, Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 271.
- Từ tháng 6 năm 1968 đến tháng 9 năm 1968: Đại đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 271.
- Từ tháng 9 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969: Trợ lý Tác chiến Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
- Từ tháng 3 năm 1969, đến tháng 7 năm 1969: Đại đội trưởng Đại đội 1, Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
- Từ tháng 4 năm 1969 đến tháng 7 năm 1970: Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
- Từ tháng 6 năm 1970 đến tháng 10 năm 1970: Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
- Từ tháng 10 năm 1970 đến tháng 3 năm 1971: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27, Mặt trận B5.
Từ tháng 5 năm 1972 đến tháng 4 năm 1973: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 bộ binh, Sư đoàn 320B.(?)
- Từ tháng 4 năm 1973 đến năm 1974: học tại Học viện Quân sự.
- Tháng 8 năm 1974: Trung đoàn phó Trung đoàn 27, Sư đoàn 320…
   (còn nhiều cái sai nhưng trích đoạn dài quá)
Khi xem tiểu sử của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu chính tôi cũng không hiểu nổi tại sao anh Hiệu lại kê khai lung tung và bát nháo như vậy ví như đoạn “từ tháng 5.1972 đến tháng 4.1973: Trung đoàn Trưởng, Trung đoàn 27 bộ binh, sư đoàn 320B, rồi xuống hàng đưới “từ tháng 8.1974: Trung đoàn phó Trung đoàn 27, sư đoàn 320… (Anh ấy xuống cấp à???) Có lẽ do anh Hiệu bận công việc hoặc là không biết về máy vi tính nên chẳng thèm xem để rồi cái lý lịch của mình chẳng giống ai cả.
   Vậy thì anh Hiệu không có ở đơn vị đại đội 1, tiểu đoàn 3 thì sao anh lại tự nhận mình trực tiếp chiến đấu ở đó và rồi “MỖI KHI NGHĨ ĐẾN ANH EM, LÒNG TÔI LẠI ĐAU THẮT”, lại còn nói “Anh em Đại đội 1 hy sinh đều được an táng tại làng Phúc Sa, xã Gio Hà”.
Chúng tôi là người được cấp trên cử đi vào nhặt xác đồng đội hy sinh đưa về phía sau cách trận địa khoảng 2 km, vậy mà bây giờ anh Hiệu bảo chôn anh em tại trận địa (Làng Phúc Sa), tôi xin hỏi những anh em đồng đội đang còn sống đã từng tham gia chiến đấu, có ai làm công tác chôn cất tử sỹ như vậy không? (trừ trường hợp đang hành quân trên đường mà bị bom, pháo hy sinh thì phải để anh em tại chổ), còn đây là đơn vị vào chiến đấu có hậu cứ, có trạm phẩu quân y ở phía sau nên không có chuyện chôn anh em tại trận địa (làng Phúc Sa) được, bởi vì sau trận đánh đó địch tổ chức một cuộc càn rất lớn, tiểu đoàn 3 được lệnh rút ra sang bờ Bắc sông bến Hải về Nông Trường Quyết Thắng củng cố, bổ sung quân, sau trận đánh ở Làng Phúc Sa tôi được cấp trên phong quân hàm hạ sỹ và bổ nhiệm giữ chức tiểu đội trưởng, đến trung tuần tháng 4.1968 cả tiểu đoàn mới vào vây ép phía Bắc và phía đông Căn cứ Cồn Tiên.
    Ví dụ thứ hai tôi muốn nói là: Trong đợt vây ép Cồn Tiên anh Nguyễn Huy Hiệu kể rằng: “Đến ngày 12 tháng 5 năm 1968, tôi bàn với anh em luồn sâu vào hàng rào thứ 5 căn cứ Cồn Tiên. Chúng tôi gỡ được 31 quả mìn các loại trong khu dự kiến xây dựng công sự hầm hào và tổ chức trận địa chết ở trong đó.
    Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái. Hàng ngày địch tung thám báo và xe tăng đi tuần ở ngoài hàng rào. Chúng đâu biết rằng ở trong hàng rào lại có Quân giải phóng.
Tối nào chúng tôi cũng đánh mìn, đánh bộc phá, tập kích quân địch, vừa tiêu hao sinh lực, vừa gây tiếng nổ làm cho địch trong căn cứ ăn không ngon, ngủ không yên, luôn trong trạng thái lo nơm nớp”.
    Đoạn kể này nếu  những ai chưa làm cán bộ chỉ huy tác chiến thì có thể họ tin những lời anh Hiệu kể là có thật, còn những ai đã làm cán bộ chỉ huy rồi thì không thể chấp nhận một câu chuyện hoang đường như vậy, bởi vì:
    Một là anh vào trong hàng rào thứ 5 của địch để làm gì trong đó, mà trong tay anh có tới một trung đội 15 – 20 người ở thời điểm đó,(tôi nguyên là trưởng khoa trinh sát Học viện Lục Quân, đã từng huấn luyện, đào tạo ra hàng chục khóa sỹ quan TS, chưa bao giờ dạy cho bộ đội khi đi TS vào trong các hàng rào phải có từ 15 người hay 1 trung đội cả, tối đa chỉ 1 tổ khoảng 5 đến 3  người mà thôi).
    Hai là ở trong hàng rào thứ 5 mà “Chúng tôi lấy hòm gỗ do máy bay địch thả xuống ghép lại thành những căn hầm kiên cố, có thể ngủ nghỉ thoải mái”
    Đọc đến đoạn này tôi đã cười chảy nước mắt ra rồi đấy, bởi vì làm sao anh đang ở trong hàng rào thứ 5 mà đi lại vác gỗ để làm hầm một cách thoải mái như vậy, có lẽ mấy cái hàng rào này do thời Pháp để lại đâu ngoài Vĩnh Linh thì phải, mà nếu nó ở ngoài Vĩnh Linh thì lúc đó bom đạn củng nhiều đi lại không được thoải mái đâu đấy anh Hiệu à.
    Ví dụ thứ 3: Đúng như bài viết của Lê Bá Dương có dẫn: “Trung đoàn 27 do tôi (N H Hiệu) chỉ huy được tăng thêm Trung đội thiết giáp đánh chặn địch, mục đích không cho chúng chiếm các địa danh An Tiêm, Nại Cửu cách Thành cổ 1 km“. Đoạn trích này là bài viết của tác giả Vương Hà, (bài 1) có tựa đề: “ký ức về 81 ngày đêm giữ Thành cổ Quảng Trị” có lẽ câu nói này là do tác giả bài viết tự nói thay anh Hiệu, bởi thời điểm này anh Nguyễn Huy Hiệu đã được cấp trên cho ra Bắc để đi học văn hóa rồi, anh Cao Uy là trung đoàn trưởng (thay anh Phạm Minh Tâm sang làm sư đoàn trưởng 325), nhưng tôi thấy dù sao thì anh Hiệu cũng có lỗi bởi vì mình biết chưa phải là trung đoàn trưởng và cùng thời điểm mình không trực tiếp tham gia chiến đấu nữa, tại sao khi đọc qua bản thảo của bài viết thì chính mình phải kiểm tra và yêu cầu xóa đi cụm từ đó hoặc là bảo với “đệ tử” không được viết sai sự thật như vậy.
    Tôi đã đọc hết cuốn sách “Một thời Quảng Trị” của Nguyễn Huy Hiệu do Lê Hải Triều ”thể hiện”, phần lớn nội dung là lấy lại trong cuốn lịch sử 30 năm của trung đoàn 27 rồi gắn cho anh Hiệu kể, tuy nhiên có một số nội dung viết sai như tôi đã nói ở phần trên, còn 4 bài ký sự của tác giả Vương Hà kể về thành tích, công trạng của anh Nguyễn Huy Hiệu thì tôi thấy tác giả đánh bóng nhiều quá, đúng ra anh Nguyễn Huy Hiệu phải biết cái sai không cho in bài viết đó nữa, để hôm nay chúng tôi  không phải nói lên những điều rất buồn này.
CCB – NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH LÊ BÁ DƯƠNG:
Kẻ đạo văn – người bịa sử! Hoàn toàn có thể  nhận xét một cách khái quát như vậy khi đọc hết 690 trang hồi ức “Một thời Quảng Trị” của tác giả: thượng tướng, tiến sĩ Nguyễn Huy Hiệu. Dĩ nhiên với nhận xét này sẽ gây sốc, thậm chí là khó tin với những ai không sống cùng đơn vị với tác giả  trong cùng không gian, thời gian diễn ra các sự kiện được dẫn trong cuốn sách này.
…Đáng tiếc, không chỉ là có trong chương mở đầu, mà gần như xuyên suốt trong từng trang sách “Một thời Quảng Trị” của thượng tướng, tiến sĩ Nguyễn Huy Hiệu,  Lê Hải Triều (người chấp bút thể hiện) đã liên tục sao chép, chiết bứng (thực chất là đạo văn) từng đoạn văn trong cuốn Lịch sử Trung đoàn 27 Triệu Hải (Cục chính trị quân đoàn 1 xuất bản tháng 4/1987) đưa vào cuốn hồi ức. Và để tránh phát hiện, tác giả đã cố tình đổi vài từ trong câu. Đơn cử trong trang 33, cuốn lịch sử Trung đoàn, tác giả bê nguyên đoạn: Ngày 11 tháng 3 năm 1968.Vừa sáng ra, xe tăng địch đã xuất hiện bắn như giã dò về phía trận địa ta. Bộ binh địch tập trung hỏa lực bắn mạnh vào các gò đất nổi lên giữa các bãi cát để  phá sập  công sự  của bộ đội ta… Nhưng khi “bê “ sang cuốn hồi ức, nó được đổi hai từ (chữ đỏ): Ngày 11 tháng 3 năm 1968. Vừa sáng ra, xe tăng địch đã xuất hiện bắn như vãi đạn về phía trận địa ta. Bộ binh địch tập trung hỏa lực bắn mạnh vào các gò đất nổi lên giữa các bãi cát để  phá sập  công sự  của bộ đội ta…Và không chỉ “sao chép” từng câu, tác giả còn mạnh tay chép nguyên cả “chùm” liên tục các trang. Trong đó chỉ riêng phần mô tả các trận đánh trong tháng 3/1968… Tác giả bê nguyên 7 trang (từ  26 đến trang 32)…
trang 72
Trang 72 và  73 trong cuốn sách Một thời Quảng Trị, được tác giả bợ nguyên 2 trang (31-32) cuốn Lịch sử Trung đoàn 27 Triệu Hải (xuất bản 4/1987)
trang 72
Trang 31 và 32 – Lịch sử Trung đoàn 27 Triệu Hải được tác giả  sao chép đưa vào sách MTQT
alt
Một đoạn trong trang 68 của cuốn sách Một thời Quảng Trị được sao y từ trang 26 – Lịch sử trung đoàn 27 Triệu Hải (Ảnh nhỏ)
alt
Một đoạn trong trang 63 Một thời QT được tác giả bợ từ trang 22 Lịch sử Trung đoàn 27 Triệu Hải
Rất tiếc, có thể do không phải là đồng đội “kề vai sát cánh” và không có trong tay những cuốn lịch sử liên quan để tham khảo, nên nhiều người như đại tá nhà  văn Chu Lai đã không tiếc lời ca ngợi tác giả Lê Hải Triều với “…độ chín về thẩm mỹ thông tin, chín về bút pháp… rằng: Một thời Quảng Trị do đại tá Lê Hải Triều thể hiện là một cuốn sách thành công….vì cách xử lý tài liệu đạt tầm chuyên nghiệp… đã thổi được cái hồn của mình vào từng trang viết” (trang 667).
Và không chỉ đạo văn, tác giả Lê Hải Triều qua các trang sao chép các đoạn, các trang trong các cuốn sử liên quan, còn tự bóp méo, làm sai lệch lịch sử trung đoàn qua việc thêm thắt, cắt gọt, bóp méo nhiều chi tiết sự kiện và nhân vật trong các  sự kiện lịch sử. Dĩ nhiên, người chịu tránh  nhiệm  cuối cùng về sự méo mó lịch sử này không ai khác là thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Không hiểu vì động cơ gì, tác giả Nguyễn Huy Hiệu lại có thể qua những câu chuyện “kể” với vai trò “tôi” của mình đã có mặt tham gia, “tả xung hữu đột”  gần như cùng lúc các trận đánh và hoạt động của các đơn vị khác nhau???.
Thoạt đầu, sau khi kể chi tiết  một sự kiện không có thật: Ngày 26/2/1968, cả trung đoàn 27 chúng tôi cùng lúc vượt sông Bến Hải. Đội hình của trung đoàn kéo dài từ cao điểm 31 đến  căn cứ Cồn Tiên…Đại bộ phần trung đoàn vượt sông ở thượng nguồn Bến Hải, riêng tiểu đoàn 3 của tôi vượt sống bằng đò của du kích Vĩnh Giang…Tác giả bồi thêm một thông tin mở đầu cho trí nhớ đặc biệt của mình: …Người chiến sĩ hi sinh đầu tiên của trung đòan 27 là đồng chí Dương Văn Dũng, tiểu đội phó, tiểu đoàn 2, hi sinh ngày 27/2 tại Vĩnh Hiền – Vĩnh Linh (Quảng Trị)…. Điều này những ai không cùng đơn vị, không cùng thời ..có thể bị…tin. Nhưng với nhiều những  CCB lão thành có mặt từ đầu như bác Ngô Minh Hớn (hiện ở Vinh), bác Trần Thọ Sơn (Cửa Lò), bác Thung (Hà Tĩnh)…thì đây là những câu chuyện hoàn toàn sai sự thật, bởi vào thời điểm kể trên, khi tiểu đoàn 3 (Nguyên là tiểu đoàn 44 Hà Tính), tiểu đoàn 2 (Nguyên là tiểu đoàn 43 Nghệ An) vượt sông, thì tiểu đoàn 1 (nguyên là tiểu đoàn 9 thu dung- trung đoàn 271, nơi tác giả Nguyễn Huy Hiệu làm chiến sĩ ) còn đang thực hiện bổ sung thêm quân và trang bị vũ khí tại nông trường Việt Trung (Lệ Ninh – Quảng Bình). Càng không thật khi tác giả đến đầu tháng 4/1968 mới vượt sông trong đội hình tiểu đoàn 1. Và tuy trong chiến tranh, chưa một lần đặt chân đến làng Gia Bình (Gio An),  nhưng tác giả vãn  tự  khẳng định mình tham gia chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn 2 tại làng  Gia Bình. Để rồi những năm gần đây, mỗi khi về lại Gio An, tác giả đã kể “chi tiết” mình đã chiến đấu thế nào, tự tay đưa các Liệt Sĩ hi sinh ra giếng cổ tắm rửa làm lễ an táng chu đáo… Tương tự, trong khi liên tục từ đầu năm 1968 đến tháng  9 năm 1969 , tác giả chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn 1, chưa hề có mặt tại tiểu đoàn 2 hoặc tiểu đoàn 3, nhưng cũng chính tác giả đã làm nhiều CCB lão thành của tiểu đoàn 3 ngỡ ngàng khi tác giả “kể”: Tôi được tiểu đoàn giao nhiệm vụ thay anh Chất làm trung đội trưởng (C2 D3) (trang 78)??  như khẳng định  mình từng trong biên chế  của đại đội 2, tiểu đoàn 3 trực tiếp chiến đấu tại làng Phúc Sa – Gio Hà- Gio Linh khiến chị Trần Thị Hương Giang (hiện ở Đông Hà – Quảng Trị – ĐT 0533850733) một cựu nữ cán bộ xã đội xã Gio Hà  cũng phải ..nhầm lẫn rằng: Qua đọc cuốn sách này, mới biết tiểu đoàn 3 do đồng chí  chỉ huy. Nếu biết sớm, ngày 30/4 vừa rồi đồng chí vào làm sống lại những địa danh, những năm tháng một thời hào hùng ở chiến trường Quảng Trị, tôi sẽ tìm đến gặp đồng chí để vừa thăm hỏi, vừa báo cáo với đồng chí thêm về sự chiến đáu quả cảm của đại đội 1, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn đồng chí mà chính bản thân tôi cùng chiến đấu trong giờ phút hào hùng, anh dũng đó…!??
  Điều đáng ngạc nhiên đến phi lí, là kèm theo từng trang đoạn “bịa” như thật như vậy, tác giả còn “kê” nguyên một danh sách các Liệt sĩ với đủ chi tiết họ tên, quê quán, năm sinh tháng đẻ…Cứ vậy , danh sách này kế tiếp danh sách kia , hàng ngàn Liệt Sĩ toàn trung đoàn được 2 tác giả phối hợp nhau chêm vào các trận đánh, khiến nhiều người cả tin để tin mà không ai đặt câu hỏi rằng đó là một trong những câu chuyện bịa của tác giả. Và rằng tại sao tác giả đơn vị này, lại có thể biết rõ để  “ghi vào cuốn sổ tay – lời tác giả) họ tên, quê quán, ngày tháng năm sinh, trường hợp hi sinh của từng Liệt Sĩ trong cả trung đoàn. Từ danh sách các Liệt Sĩ được “kê” trong sách, các thân nhân Liệt Sĩ sau  khi lắc đầu vì không thể tìm được những thông tin từ tác giả về người thân của mình, đã tìm đến các đồng đội khác dọ tìm. Riêng tôi, mỗi ngày cũng  có cả chục cuộc ĐT và người đến liên hệ tìm kiếm thông tin người thân.
 Một kết cục tưởng như có hậu, lại trở thành vô hậu có nguồn gốc từ sự đạo văn và bịa sử của đồng tác giả “Một thời Quảng Trị”
alt
Một đoạn trong trang 62- Một thời QT được sao chép từ trang 21 Lịch sử trung đoàn Triệu Hải.
ĐẠI TÁ TRẦN NGỌC LONG:
- Chúng tôi, những Quân nhân đã trực tiếp chiến đấu 81 ngày đêm BVTCQT năm 1972 ủng hộ và sẵn sàng tham gia vào chuyên mục NHẶT SẠN MỘT THỜI QUẢNG TRỊ theo sáng kiến của các Bạn. Bởi: Trong những năm qua trên các phương tiện thông tin đại chúng của Đảng và các Ngành cũng như tỉnh Quảng Trị (cả về quản lý chính thống) đã có quá nhiều thông tin đưa ra chưa đúng, không đúng với sự thật từ chính cuộc chiến đấu này, có chiều hường làm SAI LỆCH,MÉO MÓ về lịch sử 81 ngày đêm BVTCQT, mặt khác để góp phần thực hiện NQTW4 ngăn chặn ai đó có ý đồ THAM NHŨNG VỀ CHÍNH TRỊ.
- “Tôi và còn rất nhiều CCB trực tiếp đánh Thành Cổ , là nhân chứng sống; ông Hiệu đâu có tham gia đánh đấm gì trong 81 ngày đêm ấy mà cứ nhận bừa phứa sai sư thật đến thế, Tôi cũng đã nhiều lần viết bài cho báo viết, báo nói nhưng họ cứ ỉm đi. Ngao ngán quá! Tôi ủng hộ các bạn, đồng đội tôi ủng hộ các bạn, vì chân lý và sự thật. Nếu cần, chúng tôi còn có cách khác để làm ra sự thật này”. Buồn thay, sao anh Hiệu lại cố tình lầm lỡ đến thế không biết?”
CCB E27 – NHÀ BÁO TÔ LAN:
GỬI ANH NGUYỄN HUY HIỆU
Sao buồn thế anh Hiệu ơi! Đồng đội đã và đang chỉ ra cái sai của anh đấy! Anh làm gì đi nếu anh thấy được những điều đồng đội chỉ cho anh là đúng. Một lời xin lỗi lúc này là rất cần thiết. Tiếp đó anh cho thu hồi những cuốn sách viết sai của anh, cho tái bản sau khi đã bổ sung và sửa chữa; nói lại loạt bài ký ức 81 ngày đêm Quảng trị. Những người viết về anh và chắp bút cho anh đã tô hồng anh quá mức, làm sai cả sự thật.
Anh hãy làm đi để thanh danh anh được vẹn toàn. Đồng đội sẽ yêu quý và kính trọng anh hơn nếu anh làm được như vậy.