Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

Một số bài hát về bộ đội

 Nghe lại một số ca khúc quen thuộc cuối thập niên 70 và đầu 80 thế kỷ trước, cũng là cách ôn lại những giai đoạn đã qua.

LỜI TẠM BIỆT TRƯỚC LÚC LÊN ĐƯỜNG

Sáng tác: Vũ Trọng Hối
Trình bày: Tốp ca nam
Ngày ra đi, hướng biên cương, gió bấc tràn về lòng anh lạnh buốt.
Nòng súng thép, dáng câu thơ,
Ý thơ tuyệt hay là thơ Lý Thường Kiệt.
Lòng người Việt Nam nào đâu thích gì đạn bom
Ngọn nguồn đau thương trải qua nhiều rồi
Việt Nam ơi! Việt Nam ơi!
Trái tim Việt Nam, tình yêu cuộc sống.
Giặc dùng đạn bom thì ta giáng trả đạn bom
Quyết chiến thắng!
Cho hôm nay, cho con, cho cháu và cho khắp mọi miền.
Đời tuyệt đẹp, gió bát ngát, xanh xanh câu hát trời trong sáng tuyệt trần.

Ngày ra đi, hướng biên cương, có em tiễn đưa mà mắt lệ ướt.
Về đi em, nếu yêu nhau, hãy yêu rộng hơn cả non nước một thời.
Cầm bàn tay em nào anh nói gì nhiều đâu,
Cuộc đời thanh xuân là thôi nhé tạm biệt,
Dòng nước mắt, dù thiêng liêng, vẫn không làm cho giặc kia lùi bước.
Giặc dùng đạn bom thì ta giáng trả đạn bom
Quyết chiến thắng!
Cho hôm nay, cho con, cho cháu và cho khắp mọi miền.
Mùa quả ngọt, trái sẽ chín, anh đi em nhé vì chân lý ngời ngời.  




CHIỀU DÀI BIÊN GIỚI

Sáng tác: Trần Chung
Trình bày: Tốp nam Đài TNVN

1-Chiều dài biên giới
Dài theo bước chân chúng tôi
Những đỉnh núi mờ sương
Tiếng sóng vỗ trùng dương
Nghe đất quê hương hát cùng bước chân chúng tôi.

Đường về biên giới
Tình đất nước đẹp núi đồi
Cánh rừng với dòng sông
Mỗi tấc đất ngàn năm
Gian khó đau thương vẫn ngời sắc hương.

ĐK1: Hành quân đi ven rừng xưa còn in bóng cờ
Vó ngựa ngàn năm những anh hùng đi giữ nước
Đây Chi Lăng, đây Đống Đa còn vang tiếng thét
Vẫn còn kia.
Tiếng sóng xô Bạch Đằng đã cuốn đi cuồng phong
Qua rồi thời vương bá!

2-Chiều dài biên giới
Từng tấc đất lộng gió ngàn
Đất mẹ đất Việt Nam
Nuôi ta lớn lên từ đây
Gắn bó yêu thương tấm lòng chúng con khắc sâu

Trập trùng biên giới
Dù mưa nắng dù bão bùng
Vẫn dồn bước hành quân
Cho cây lúa hậu phương
Em gái thân thương hát mừng quê hương

ĐK2: Bàn chân đi tô đẹp trang lịch sử sáng ngời
Trên đường hành quân nhớ dáng Người bên Pác Bó
Ta ra đi trong khúc ca tình yêu đất nước
Nghe còn vang
Tiếng Bác vẫn vọng về ấm áp thêm tình người
Trên đường xa biên thùy

Chiều dài biên giới chúng tôi đã qua
Bảo vệ biên giới chúng tôi đứng đây
Cho đất mẹ nở hoa
Trong tình yêu bao la.


Tiếng đàn bên bờ sông biên giới 

Sáng tác: Phạm Tuyên
Trình bày: Tiến Thành - Ngọc Tân - Huy Hùng


ĐỒNG ĐỘI

Nhạc và lời: Hoàng Hiệp
Trình bày: Trọng Tấn - Đăng Dương - Việt Hoàn

Chúng tôi ngồi kề vai bên nhau trăng trên đầu súng
ánh lửa hồng bừng soi đêm sâu, làn khói che sương mờ.
Bạn tôi đang mơ nơi làng quê yêu dấu có con kênh đào lúa xanh 2 mùa mát cánh đồng.
Còn tôi đang mơ, mơ người tôi yêu dấu cách xa muôn dặm mà lòng không xa.

Chúng tôi nằm đầu gối trên tay nghe chim kêu ngoài bãi
mắt đưa nhìn trời sao lung linh chuyện mãi quên đêm dài.
Bạn tôi cho hay sau này xong chiến đấu sẽ lên nông trường sớm hôm trên đồng lái máy cày.
Còn tôi mong sao bao ngày tôi đang sống sẽ không bao giờ mờ nhạt mai sau.

Giữa khu rừng ngàn năm âm u nơi biên cương Chùa tháp
chúng tôi thường đổi trao suy tư cùng thắp ngọn lửa hồng.
Cùng chia cho nhau bao hiểm nguy gian khó giữa cơn mưa rừng, những khi lưng tựa vách chiến hào.
Nhiều khi vui sao đang hành quân chiến đấu, lá thư quê nhà chuyền tay cho nhau.
 

CHÂN DUNG MỘT NGƯỜI BIỂU TÌNH BỊ BẮT

Vũ Ngọc Tiến 
Ảnh: Nguyễn Lân Thắng
Anh tuổi Nhâm Ngọ, nếu tính cả tuổi mụ thì anh vừa tròn 70 tuổi, nhưng còn khá phong độ. Dáng người thấp đậm, gương mặt trẻ trung, phúc hậu và đôi mắt một mí biết cười. Lòng bàn tay anh đỏ hồng, đôi gò Kim Tinh  và Thái Âm dầy dặn, ấm nóng. Ngồi đối diện anh uống café, nếu dồn hết tinh lực mà dùng thuật Bát Sát trong sách xem tướng để quan sát toàn diện chừng dăm phút, tôi như thấy một viền sáng rất mảnh và trong suốt của thể Phách bao quanh thân hình. Tướng người như thế, gặp một lần là có thể tin ngay, yên tâm kết bạn lâu dài…
 Trong ảnh: Nhà văn Vũ Ngọc Tiến (thứ 3 từ trái qua, đứng sau giữa GS Nguyễn Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc)


Ảnh NXD
 Bốn năm trước (2007), cũng vào một ngày tháng bảy mưa ngâu, có người bạn thân thiết của gia đình đưa anh đến làm quen với tôi. Nghe bạn mình giới thiệu, tôi biết anh là con nhà cách mạng nòi, nghỉ hưu với quân hàm Đại tá tình báo công an, từng làm tùy viên Đại sứ quán ta ở một đại cường quốc phương Tây… (Trong ảnh: Nhân vật chính trong bài, thứ 2 từ trái sang) Tôi bỗng thấy chờn rợn, dè dặt trong từng lời nói. Dường như cảm nhận ra điều ấy nên anh chủ động phá đi không khí gượng gạo ban đầu, bông phèng vài câu chuyện tếu rồi bảo: “Mình đọc truyện ngắn và các bài báo của ông về giáo dục, tam nông thấy tâm đắc nên tìm gặp tác giả  tỏ lòng hâm mộ, thế thôi. Cùng cảnh bạn già về hưu trong cái “Hội ngồi bệt”, còn gì cách bức nữa đâu mà ông phải dè chừng, cảnh giác…” Cứ thế, chỉ sau một tuần trà, chúng tôi đã thành thân thiết, say sưa đàm đạo đủ thứ chuyện trên giời dưới bể, cổ kim, Đông- Tây. Trong anh có đủ sự tinh tế, sắc sảo của người tình báo và cả sự từng trải đi nhiều, hiểu rộng, nghĩ sâu về mọi mặt của đời sống xã hội thời mở cửa hội nhập với thế giới văn minh. Bẵng đi một thời gian dài bận việc, tôi gặp lại anh trong cuộc biểu tình chống TQ xâm lược ngày chủ nhật 24/7/2011. Mấy bạn trẻ đứng gần bảo tôi: “Bác ấy lớn tuổi mà vẫn sôi nổi suốt mấy chủ nhật rồi, vừa đi vừa chụp hình, hô to khẩu hiệu nom khí thế hơn cả lũ thanh niên chúng cháu.” Sáng chủ nhật 7/8/2011, dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ, tôi giới thiệu anh với hai bậc trưởng lão làng văn Nguyên Ngọc và Huệ Chi.  Nghe tôi tóm tắt cái lý lịch đỏ như son, một cô giáo chừng 50 tuổi gần đó trầm trồ: “Người như bác ấy mà chủ nhật nào cũng nhiệt tình góp mặt thì chúng em không xuống đường sẽ thẹn với cụ Lý Công Uẩn lắm lắm!…” Khoảng 18h30’ ngày 19/8/2011, đang ngồi quán café Nhân ngắm nhìn trời mưa rả rích, tôi nghe được giọng anh qua điện thoại: “Ông đã đọc cái gọi là Thông báo c ấm biểu tình của thành phố chưa, thấy thế nào?” Tôi đáp gọn thỏm: “Đọc rồi. Không chính danh.” Anh đồng tình: “Đúng, danh đã không chính thì ngôn làm sao thuận, nên nó vô giá trị. Chủ nhật tới, dù trời mưa hay nắng tôi vẫn cứ đi, còn ông?” Cảm động trước tấm lòng tràn đầy nhiệt huyết của anh, tôi đáp một lèo không hề nghĩ ngợi: “Đi chứ! Là một công dân, tôi có trách nhiệm phải xuống đường, cùng mọi người thề giữ gìn chủ quyền biển đảo. Là thằng nhà văn, tôi có nhu cầu dấn thân vào đời sống xã hội để trang viết khỏi khô cứng, mờ nhạt. Là người ông trong gia đình, tôi không muốn sau này hổ thẹn với cháu nội, cháu ngoại của mình. Đơn giản thế thôi.” Đầu bên kia có tiếng anh cười ngả ngớn như muốn vỡ màng loa: “Nhà văn có khác. Tôi có phải ký giả phương Tây đến phỏng vấn đếch đâu mà ông nói hay như đang nhập đồng ngồi viết thế, haha!…” Thế đấy, chúng tôi xuống đường bằng nhu cầu tự thân, tuệ giác mẫn tiệp và sự mách bảo của con tim mỗi người, chứ đâu cần ai tổ chức, càng không thể có thế lực thù địch nào lôi kéo, kích động nổi những mẫu người như anh.

 Sáng chủ nhật 21/8/2011, cơn mưa dai dẳng, lúc mau lúc thưa cứ níu giữ chân tôi ở quán café gần phở Thìn, trước cổng Sở “Văn- Thể- Du” của thành phố còn đang xây dựng ngổn ngang sắt thép. 8h25’ mưa tạnh. Sân khấu biểu diễn ca nhạc dưới chân tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bắt đầu chuẩn bị khai diễn, không có một bóng người dân hay khách du lịch, chỉ thấy chừng dăm chục cháu sinh viên thuộc khoa Công nghệ- Đại học Bách khoa mặc đồng phục xanh của thanh niên tình nguyện, đội mưa từ mờ sáng đứng vây quanh bên dưới. Tôi bước vội sang bên kia đường, men theo vỉa hè lát đá, lững thững bước về phía công viên Lý Thái Tổ. Ở đó cũng có một sân khấu biểu diễn văn nghệ “cây nhà lá vườn”, na ná như cái trò lố tôi vừa ngao ngán coi qua ở gần Sở “Văn- Thể- Du” ban nãy. Nghĩ mà thương các cháu sinh viên, buồn the thắt. Đối diện với sân khấu biểu diễn là nhóm người biểu tình chống TQ xâm lược cũng bắt đầu tụ tập đông dần quanh mấy chiếc ghế đá ven hồ. Từ xa, tôi đã nhìn thấy bạn mình trong nhóm người tiên phong của cuộc biểu tình hôm đó. Những biểu ngữ được căng ra, pa-nô, áp-phích giương cao và những tiếng hô khẩu hiệu yêu nước làm chấn động cả một góc Hồ Gươm thiêng liêng, giữa thủ đô ngàn năm văn hiến. Càng lại gần, tôi càng nhìn rõ cánh tay anh nắm chắc vung lên theo nhịp hô của đoàn người rền vang hưởng ứng lời hô của các chị Minh Hằng, chị Phương Bích, cháu Phương, cháu Đức… Đoàn người đi về phía phố Hàng Khay được chừng 15’ thì cuộc trấn áp biểu tình diễn ra quyết liệt, dồn bắt người lên xe Bus. Chiếc xe Bus đầu chở chị Minh Hằng và hơn 20 người vừa chạy khỏi hiện trường thì chiếc thứ hai rồ tới ngay tắp lự. 3 công an trẻ mặc thường phục hùng hổ vây quanh bạn tôi, một người nắm áo lôi đi đằng trước, còn hai người vừa xốc nách vừa đẩy anh từ phía sau. Tôi nhìn anh chân không chạm đất, tay chới với giơ cao chiếc máy ảnh, miệng vẫn quát “chúng mày quyền gì mà bắt tao” mà lòng như có kiến bò, muối xát. Chân tôi như có lực hút nam châm, nhảy vội xuống đường, muốn theo anh lên xe cho có bạn đi cùng, nhưng một cán bộ an ninh có cánh tay rắn như thép bóp chặt bờ vai, kéo tôi lại và bảo: “Thôi bác làm ơn quay về cho chúng cháu làm nhiệm vụ.” Ở mép vỉa hè bên trái tôi, một vị khách du lịch người Âu cao lênh khênh đang cố kiễng chân, giơ chiếc Camera lên cao quá đầu để ghi hình, có 2 chàng trai và 1 cô gái đeo băng đỏ xòe tay trước mặt ông ta để che ống kính mà không tới được. Cảnh tượng nom thật bi hài! Bạn đi rồi, tôi bần thần nhìn theo chiếc xe Bus tuyến Bờ Hồ- Cổ Nhuế được trưng dụng chở người biểu tình bị bắt vào trụ sở công an phường Mỹ Đình. Chẳng biết trong ống kính của vị khách du lịch kia có lưu được hình của anh lúc còn chới với nơi cửa xe ? Giữa đám đông ngơ ngác và nhốn nháo còn lại bên hồ, tôi chợt nhìn thấy cô gái mặc sắc phục cảnh sát đang cầm trên tay chiếc biển sắt tròn với dòng chữ “Cấm quay phim, chụp ảnh”. Hồ Gươm là danh thắng của thủ đô, du khách tha hồ tự do dạo mát, ngắm cảnh, quay phim và chụp ảnh. Chiếc biển cấm trên tay cô cảnh sát này là cái bẫy để tạo cớ bắt giữ công dân mình quay phim, chụp ảnh về cuộc biểu tình chăng? Tôi nán lại nơi xảy ra biểu tình đến 10h30’, thơ thẩn đi dưới những tán cây cổ thụ ven hồ, bồn chồn nghĩ về anh và hơn bốn chục người bị bắt đưa vào Mỹ Đình. Nhiều người đi biểu tình muộn nhận ra tôi vồ vập hỏi thăm hoặc xin cùng tôi chụp vài pô ảnh làm kỷ niệm. Thật lạ, có người từ Huế hoặc Nghệ An ra, từ Nam Định lên, từ Tuyên Quang xuống chưa hề gặp mặt mà vẫn biết anh, hỏi thăm anh qua tôi và nói những lời tốt đẹp về anh- một Đại tá công an nghỉ hưu đi biểu tình, bị bắt lúc 9h12’ ngày 21/8/2011…

 Đêm tôi vào mạng, mừng vì biết anh cùng nhiều người khác được tha về lúc 14h30’ trong ngày. Chợt tôi lại đắng lòng khi mờ sáng hôm sau (22/8/2011) đọc bài viết của một Nhà thơ- PGS- TS mỹ học trên báo Hà Nội Mới. Tác giả này tôi biết, thậm chí khá thân thiết với gia đình bởi anh là học trò cũ của bác tôi, khi cụ còn làm Hiệu trưởng một trường THPT ở vùng đồi núi trung du những năm 60 của thế kỷ trước. Sau khi vô cớ lên án gay gắt “những hành vi vi phạm pháp luật thất bại và trở nên lố bịch” của các trí thức, văn nghệ sĩ, tác giả còn lạnh lùng kết luận như dao chém đá: “Hành động vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng của họ đã bị các lực lượng chức năng xử lý trong sự đồng tình của những người thật sự yêu nước.” (!?) Giữa hai người tôi quen biết, một Nhà thơ- PGS- TS mỹ học, một Đại tá tình báo công an có chân dung vừa phác họa, cả hai đều đã rời ghế quyền lực, hạ cánh an toàn thì ai thật lòng yêu nước đây? Câu trả lời nhường cho bạn đọc và lịch sử sau cùng phán xét…
 Hà Nội đêm 23/8/2011
Vũ Ngọc Tiến
Nguồn: Quê Choa
Trong ảnh: Nhà văn Vũ Ngọc Tiến (thứ 3 từ trái qua, đứng sau giữa GS Nguyễn Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc)

Chủ tịch nước bị mất tích!


Tôi xin kể sau đây câu chuyện mà tôi từng được nghe chú Ba Tô Ký trực tiếp kể hồi ở Hà nội, khoảng năm 1970. Tất nhiên là nghe lóm vì chú kể với người khác mà tôi vô tình được có mặt! (Tôi nhớ hình như còn có mấy bạn Trỗi cũng có mặt khi đó).
Chú nói: Cụ Tôn vốn là dân thủy thủ lang bạt khắp nơi, vậy mà bây giờ ổng bị “quây” hết cỡ, hổng đi đâu được. Tôi nghiệp! Bởi vậy anh em Nam bộ ngoài này có rảnh vẫn thường tới thăm cho Cụ vui.
Rồi chú kể câu chuyện thế này:
Có một lần chú Ba tới thăm Cụ Tôn. Đám bảo vệ nói Cụ đang nghỉ. Chú nói thì tôi vô thăm Cụ bà. Quen rồi, nên họ cũng để chú vô. Lên nhà thấy Cụ ông đang ngồi uống trà một mình kêu chú vô ngồi chơi. Chuyện vãn một hồi, chú hỏi Cụ có thèm thịt chó không? – Tụi nó đâu có cho! – Vậy là chú rủ Cụ đi.
Xuống nhà, chú Ba đưa Cụ Tôn vô băng sau xe (hồi đó chú thường tự lái cái co-măng-ca đít tròn, cửa sau lúc nào cũng kéo rèm). Chú nói Cụ nằm xuống, lấy cái áo mưa phủ lên rồi đánh xe ra cổng, nói với đám bảo vệ: Cụ ông mệt, tôi về để Cụ nghỉ. Rồi chạy xe thẳng xuống gần Bạch Mai, chỗ có mấy ông Nam bộ ở đó, mời Cụ một chầu thịt chó đã đời.
Tới chiều trễ, đám bảo vệ không thấy Cụ Tôn xuống nhà, sợ Cụ bệnh vội lên xem thì Cụ bà nói: Ổng đi từ trưa rồi! – Hoảng hồn, đám bảo vệ báo động về Cục huy động quân đi tìm “chủ tịch nước bị mất tích!”. Một mặt gọi điện cho chú Ba. Lúc đó chú mới cười lớn: Yên tâm đi. Cụ dzui quá nên hơi mệt đang nằm nghỉ trên nhà tôi nè!
Chú Ba kể tới đó rồi cười hà hà và nói: Tụi nó đưa 2 xe tới nhà tôi đón Cụ về. Rồi từ đó, hễ tôi tới thăm Cụ là tụi nó đề phòng, xem xét kỹ lắm!
Hình: chú Ba Tô Ký

Thạch thất nữa nè .

Bọn cá cờ đực hay nhả bọt và nằm dưới đám bọt ấy chờ ... " người iu " . Những con cá cờ đó rất sẵn lòng đánh nhau với bất cứ ai dám làm phiền chúng . Và chúng không bao giờ biết được có những thằng sẵn sàng trốn học bất kể lúc nào để mang chúng về làm đấu sỹ .
Ngày ở Thạch Thất bọn tôi cũng hay tổ chức những trận thư hùng cho chúng . Những kẻ thắng trận thì tơi tả nhưng chủ nhân của chúng thì vô cùng hả hê ngược lại hoàn toàn với những kẻ bại trận .
Một buổi trưa hè oi ả nắng vỡ đầu .
Và cũng buổi trưa đó chỉ có hai thằng ham chơi là mình và Lê Tuấn ( Tuấn mập ), lang thang qua từng thửa ruộng tìm bắt bọn cá cờ đực . Hình như bọn cá cũng trốn nắng nên hai thằng không bắt được con nào .
Khi mình vừa nhìn thấy một đám bọt lớn và chắc mẩm mình sẽ có một con trùm thì Lê Tuấn kêu to :
- Kiên ơi ! Tao bị rắn cắn rồi .
Vội bỏ đám bọt hấp dẫn đó , mình chạy vội lại chỗ Tuấn . Dấu cắn vẫn đang chảy máu nhưng kẻ gây án mất dạng .
- Nó đâu rồi ? Mình hỏi .
- Tao không biết . Khi vừa bị cắn tao tóm lấy nó và quăng đi rồi . Tuấn nói .
- Có phải rắn độc không ? Mình hỏi . ( Công nhận là hỏi ngu thật ) .
- Tao cũng không biết , nhưng hình như là rắn độc .
Thế thì nguy hiểm thật . Mình vội rút giải rút quần đùi ra buộc chặt lên trên chỗ rắn cắn và thắt nút cẩn thận . Tình thế cực kỳ gian nan . Mình dìu Tuấn vào bờ và cõng Tuấn chạy về .
Quãng đường cũng khá dài . Hai thằng cứ mê mải tìm bọn cá cờ mà không biết rằng đã ở cách nhà đến 3 cây số . Dọc đường Tuấn cứ nài nỉ :
- Kiên ơi . Mày cứ thả tao xuống đi bộ cũng được mà .
- Không được . Mày đi bộ là nọc rắn nó sẽ dễ dàng làm mày chết ngay . Mình nói . ( Đoạn này tụi mình đã được học từ hồi ở trại Cau rồi ) .
Cuối cùng thì mình cũng đưa nó về đến chỗ chú y tá của trường .
Sau khi xem xét kỹ lưỡng , chú y tá phán một câu làm hai thằng đen thui vì nắng và ướt đẫm vì mồ hôi thất kinh :
- Rắn nước cắn . Rửa sạch chân đi để bôi cồn .
Ui giời .

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2011

Thương hiệu nông sản Việt Nam đang bị tấn công?

Trước đây khi nói đến “tấn công”, người ta thường hình dung đến một hành động hữu hình, quyết liệt giữa những thực thể tự nhiên. Nhưng giờ đây... 
Nhiều cuộc “tấn công” vô hình nhưng mức độ quyết liệt lại rất cao mà không phải lúc nào con người cũng nhận ra được, như những cuộc “tấn công” trên internet hay “tấn công” vào nhân cách, uy tín của con người, thương hiệu của sản phẩm... 

Việt Nam đang nỗ lực xây dựng hình ảnh, thương hiệu của nông sản Việt Nam không chỉ cho việc xuất khẩu sang các thị trường khác mà còn cho cả ngay thị trường trong nước. Từ một nước phải nhập khẩu gạo nước ngoài để cứu đói thì giờ đây Việt Nam đã xuất khẩu gạo, chè, càphê, hồ tiêu, tôm, cá với sản lượng lớn không nhất thì nhì ở trên thế giới. Đây thực sự là một thành tích đáng kể của ngành nông nghiệp Việt Nam và của người nông dân Việt Nam. 

Nhưng sản lượng nông sản Việt Nam tuy lớn nhưng dường như nông sản Việt Nam lại gặp khó khăn khi tiếp cận đến người tiêu dùng nước ngoài và thậm chí cả người trong nước. Nhiều cuộc hội thảo của các nhà khoa học, các nhà quản lý “từ đầu bờ” cho đến “đầu bàn” về việc làm sao xây dựng được thương hiệu cho “nông sản Việt Nam”. Nhiều tỉ đồng từ ngân sách đã được chi ra cho việc xây dựng thương hiệu theo hướng “truyền thông tiếp thị”, “tấn công vào thị trường”...

Nhưng dường như không mấy ai quan tâm rằng thương hiệu nông sản Việt Nam lại đang bị “tấn công” mãnh liệt ngay khi chưa được hình thành. Sự tấn công này nguy hiểm cho nhiều đối tượng, như nông sản và người tiêu dùng nông sản.

Đơn cử gần đây nhất cả nước xôn xao về việc một số nông dân đã trộn bùn, phân lân vào chè khô (hay còn gọi là trà khô) để được tăng khối lượng và mẫu mã đẹp. Những người nông dân đã chất phác khi trả lời phỏng vấn rằng mình làm như vậy là do khách hàng ở nước láng giềng yêu cầu. Người mua dùng chè đó để uống hay sử dụng vào mục đích nào thì đó vẫn là quyền của người mua. Người bán có lãi thì làm. Sự việc này bắt đầu từ bao giờ không ai đề cập mà chỉ khi chính nước láng giềng đó lại thông báo ở quốc gia của họ là “chè khô Việt Nam không an toàn” thì chính quyền mới ngỡ ngàng. Nhưng “kiếm củi ba năm thiêu một giờ” là một ngạn ngữ “thương hiệu” tiêu biểu. Không biết đến bao giờ cụm từ “chè khô Việt Nam sạch, không hoá chất” lại có thể ngự trị trong tâm tưởng của người tiêu dùng nước láng giềng và ngay cả ở Việt Nam? Nếu như ai đó cho rằng việc làm chè “bẩn” này chỉ mới diễn ra trong năm nay thì cái giá mà ngành chè Việt Nam, nông dân trồng chè của Việt Nam phải trả là quá đắt. Chỉ với một ít tiền để chấp nhận “thu mua chè bẩn làm bằng chứng” mà thương hiệu về sản phẩm chè Việt Nam nói riêng và nông sản Việt Nam nói chung bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kiểu tấn công này đối với ngành chè có thể là mới nhưng đã diễn ra đối với nhiều ngành khác.

Kiểu tấn công thứ hai đó là sản xuất nông sản ở quốc gia khác nhưng lại mang thương hiệu Việt Nam hay nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam mà báo chí hay gọi là “đội lốt hàng Việt”. Kiểu tấn công này mạnh mẽ đối với các sản phẩm được sản xuất công nghiệp và cũng đang tấn công vào nông sản của Việt Nam. Điển hình như các vụ thạch rau câu, nhân của bánh trung thu truyền thống, rau, củ, quả được mang nhãn hiệu Việt Nam, thông số sản phẩm bằng tiếng Việt, nơi sản xuất cũng là ở Việt Nam nhưng thực ra lại hoàn toàn là nông phẩm của một nước láng giềng. Điều đáng nói là những nông phẩm này lại là những thứ gây hại cho sức khoẻ con người và hoàn toàn bị cấm ở chính quốc gia đó. Hậu quả là người tiêu dùng lại mất niềm tin vào thương hiệu nông sản Việt Nam.

Kiểu tấn công thứ ba là tấn công vào phương thức sản xuất nông sản của Việt Nam. Thương nhân nước ngoài đã hướng dẫn cho nông dân cách tạo ra “nông sản” không cần nuôi, trồng theo lối phát triển tự nhiên. Rau bí chỉ cần giâm cành và phun thuốc sau hai ngày thu hoạch, rau muống chỉ cần phun thuốc một ngày là có thể hái đem bán, heo siêu tăng trọng nhờ hormon...Người nông dân khi đã được “nhàn” mà lãi cao thì sẽ bám theo phương thức sản xuất mới mà không quan tâm đến hậu quả của những nông sản này đối với người tiêu dùng và hậu quả đối với thương hiệu của nông sản Việt Nam. Để người nông dân quay lại với phương thức nuôi, trồng chắc phải là một thời gian dài nhưng lúc này thì người tiêu dùng đã phải tự trồng rau để ăn, mua nông sản tại siêu thị do nước ngoài quản lý hoặc mua nông sản nhập khẩu từ trời Tây.

Nhiều ví dụ khác cho các kiểu tấn công khác trực tiếp vào thương hiệu nông sản Việt Nam và gián tiếp vào sức khoẻ của người Việt Nam mà khuôn khổ một bài báo không thể kể hết được. Nhưng điều đáng nói nhất là chúng ta (bao gồm: cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hiệp hội, doanh nghiệp, báo chí và nông dân) đã chưa có những biện pháp chống đỡ những cuộc tấn công này. Rất nhiều phát biểu của những người có thẩm quyền đổ lỗi cho những hành vi làm hoen ố thương hiệu nông sản Việt Nam là do người nông dân, là do dân trí. Nhưng cũng cần nhìn nhận rằng nông dân lại là đối tượng được hưởng những điều kiện nâng cao dân trí thấp hơn những “người phi nông”. Nông dân có quyền sản xuất, bán sản phẩm sao cho có lợi nhuận cao nhất theo đúng quy định pháp luật mà họ “được biết” để cải thiện đời sống của mình. Những đối tượng khác (cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hiệp hội, doanh nghiệp và báo chí) cần phải hỗ trợ họ, cung cấp cho họ công cụ, phương thức để họ tự vệ.

Cũng cần nhận thức rằng khi thương hiệu đã bị “hoen ố” thì càng “truyền thông tiếp thị”, sự “hoen ố” càng được nhiều người biết. Nếu vậy, đúng là “gậy ông lại đập lưng ông”. Chiến lược xây dựng nông sản Việt Nam nên có thêm những phương án bảo vệ, phòng thủ đối với các cuộc tấn công. Chiến lược cho thương hiệu nông sản Việt Nam cần phải gắn với những chiến lược phát triển khác của ngành nông nghiệp. Nếu không, liệu Việt Nam có tiếp tục phải trả giá đắt cho nhận thức, phương thức sản xuất, phát triển kinh doanh và sức khoẻ con người và để cho người tấn công thu được những mối lợi nhãn tiền và sâu xa.
Theo Luật sư Nguyễn Hưng Quang
SGTT

Tư liệu

Nhân tiện hôm nọ hộ chị VTM, vào trang You Tube thấy clip này có nhận định về Chiến tranh biên giới Việt-Trung 17/02/1979 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và cố Đại tướng Văn Tiến Dũng. Đăng lại để anh em tham khảo.

Xâm lấn kinh tế mới nguy hiểm

"Xem ra thì hiện nay người Việt Nam rất quan tâm đến những hòn đảo đã bị mất và có thể sắp mất ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng ít người để ý đến một cuộc xâm lấn kinh tế. Cuộc xâm lăng này lại được nhiều đồng lõa làm nội ứng. Cuộc xâm lăng nhẹ nhàng, chậm chạp mà chắc chắn; nếu không ngăn ngừa ngay thì sau này cũng rất khó tháo gỡ...."

"Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 16 tháng 6 năm 2011 trên 90% gói thầu thuộc lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc, thì việc “ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ”. Phụ thuộc nghĩa là thế nào? Liệu có lúc nào các nhà máy điện do Trung Quốc xây có thể cùng ngưng chạy một lúc hay không? Chuyện rất khó xảy ra. Nhưng nếu người ta cố ý thì chuyện gì cũng có thể làm được"
Tháng trước, nhiều báo, đài và mạng thông tin đã ồn ào về cuộc tập trận của quân đội Trung Quốc ở vùng giáp giới Việt Nam trong các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây.
Nhưng dù Bắc Kinh cố ý biểu diễn sức mạnh quân sự sát biên giới nước ta thì người mình cũng không cần sợ.

Có nhiều lý do để người Việt Nam không sợ nạn Mã Viện, Thoát Hoan hay Vương Thông, Mộc Thạnh. Tất nhiên, lý do quan trọng nhất vẫn là những bài học lịch sử mà nước Trung Hoa đã học mỗi lần đánh Việt Nam. Khi lòng yêu nước bị khích động, dân Việt Nam sẽ rất khó bị chinh phục.

Nhưng ngay cả khi quân Trung Quốc dư sức “cho thêm một bài học” rồi rút tàn quân về, thì họ cũng không dại gì mà đánh. Từ vài chục năm nay đảng Cộng Sản Trung Hoa đang cố đeo cái mặt nạ hòa hiếu khắp thế giới, họ không dại gì tự lột mặt nạ. Hiện nay Trung Quốc đang mua bán với 220 xứ và lãnh thổ, thầu xây dựng hạ tầng cơ sở ở 180 xứ, và đầu tư vào 129 xứ! Họ muốn mang một bộ mặt ôn hòa, chỉ lo làm ăn chứ không tính xâm chiếm ai hết! Chỉ khi nào họ đã kiểm soát được, làm cho chính quyền một nước khác không cựa được, thì Bắc Kinh mới lộ mặt hung hăng mà không sợ gì cả!

Nhưng nếu Trung Quốc mà tấn công Việt Nam một cuộc chạy đua mua khí giới và tăng cường quân lực trong vùng Ðông và Nam Châu Á sẽ bắt đầu. Các nước Ấn Ðộ, Nhật Bản, Indonesia, Ðài Loan và Nam Hàn sẽ có lý do để tăng ngân sách quốc phòng, sẽ liên hết với Mỹ chặt chẽ hơn. Kỹ nghệ sản xuất vũ khí của các nước Nga, Mỹ sẽ có thêm khách hàng! Ðó là điều Cộng Sản Trung Hoa không muốn thấy!

Nhưng Cộng Sản Trung Hoa có cần phải đánh Việt Nam hay không? Họ thực sự không cần dùng sức mạnh quân sự cũng có thể đạt được những mục tiêu của họ bằng phương cách khác.

Sức mạnh của các quốc gia phải dựa trên kinh tế. Chúng ta đã chứng kiến một guồng máy quân sự khổng lồ của Liên Xô, có lúc đóng quân trên một nửa Âu Châu, nhưng cuối cùng cũng thành bất lực khi hệ thống kinh tế quốc doanh tê liệt rồi sụp đổ. Người Trung Hoa từ 30 năm qua đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế nhiều hơn là quân sự. Nếu không xâm lăng bằng quân sự thì Trung Quốc có thể làm gì để ảnh hưởng tới vận mệnh Việt Nam? Con đường chắc chắn hơn là theo con đường kinh tế.

Năm ngoái, nền ngoại thương nước ta bị thâm thủng gần 12 tỷ đô la Mỹ đối với Trung Quốc. Ðó chỉ là cán cân mậu dịch chính thức, chưa kể đến những gánh hàng buôn lậu qua một biên giới hầu như không ai kiểm soát vì các quan chức địa phương rất dễ được hối lộ. Hàng hóa bên Tàu đổ sang bán với giá vốn có thể đè bẹp tất cả các cố gắng của các nhà sản xuất Việt Nam. Nhưng những chuyến hàng lậu cũng chỉ là chuyện vặt. Chính quyền Việt Nam hiện nay đang mở cửa cho Trung Quốc tấn công trên những trận địa lớn, mà người dân Việt bình thường có thể không mấy người để ý tới, vì không nhìn thấy trước mắt.

Một món hàng không ai nhìn thấy là điện từ Trung Quốc có thể được truyền sang Việt Nam trong những sợi dây mong manh. Theo công ty điện lực Việt Nam thì các tỉnh phía Bắc nước ta đang nhập cảng điện từ Trung Quốc, số lượng lên tới 6% tổng số điện tiêu thụ trên toàn quốc. Coi như một biên giới đã bỏ ngỏ cho điện chảy qua. Nếu nhà cung cấp bên Tàu cúp điện, vì “sự cố kỹ thuật” nào đó, thì hoạt động kinh tế ở mấy tỉnh phía Bắc sẽ ngưng trệ ngay.

Vào đầu tháng 7, ký giả Ben Bland viết trên nhật báo Financial Times một bài, “Nhu cầu điện sẽ khiến xung độ Bắc Kinh Hà Nội giảm bớt” (Electricity demands could limit Beijing-Hanoi rift); sau khi quan sát thị trường điện lực ông khẳng định: “Bắc Kinh ngày càng điều khiển kinh tế Việt Nam” (Beijing is increasingly driving Vietnam's economy). Ben Bland nhận xét Trung Quốc không quan tâm đầu tư, trong năm 2010, họ chỉ bỏ vô số tiền trị giá 365 triệu Mỹ kim vào Việt Nam, bằng một phần trăm tổng số các quốc gia đầu tư trực tiếp.

Không bỏ tiền đầu tư nhiều, nhưng Trung Quốc có đường khác để gây ảnh hưởng kinh tế, là cho vay. Và họ cho vay một cách dễ dàng hơn ngân hàng các nước khác, đặc biệt trong các công trình xây dựng nhà máy điện.

Ai cũng biết một nước đang bắt đầu phát triển thì nhu cầu điện lực rất lớn. Các quốc gia mới lên đều phải vay tiền ngoại quốc, gọi thầu các công ty ngoại quốc tới xây dựng nhà máy phát điện trong nước mình. Người Việt Nam có thể đi vay các ngân hàng quốc tế, có thể gọi các công ty quốc tế tới đấu thầu trong việc xây cất. Tại sao chính quyền Việt Nam không mở các cuộc “đấu giá” công khai để các ngân hàng quốc tế cạnh tranh nhau trong việc đem tiền tới cho vay, rồi các công ty quốc tế cạnh tranh đem máy móc, thiết bị tới xây dựng nhà máy điện, sử dụng các chuyên viên và công nhân Việt Nam? Tại sao chính quyền Cộng Sản Việt Nam lại chỉ vay các ngân hàng Trung Quốc mà không vay nước khác?

Tất nhiên, sau những vụ vay tiền rồi vỡ nợ kiểu Vinashin, Việt Nam rất khó đi vay tiền trên thế giới. Nhưng đó không phải là lý do chính. Các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc sẵn sàng cho Việt Nam vay với lãi suất thấp hơn trên thị trường quốc tế. Ðổi lại, họ đặt thêm điều kiện khi cho vay, là Việt Nam phải cho các công ty Trung Quốc trúng thầu cung cấp thiết bị và xây dựng nhà máy. Các ngân hàng Trung Quốc khi cho vay đã yêu cầu chính quyền Việt Nam phải sửa đổi các điều kiện gọi đấu thầu, hạ thấp tiêu chuẩn các máy móc thiết bị xuống một mức thấp hơn, để các nhà thầu Trung Quốc đủ điều kiện tham dự! Và chính quyền Việt Nam rất dễ tính trong việc này. Thế là trong mỗi nhà máy điện được xây dựng, Trung Quốc sẽ có dịp xuất cảng các máy móc, các sản phẩm kỹ thuật. Chưa hết, họ sẽ xuất cảng cả những nhân lực dư thừa trong nước họ, bán sức lao động sang Việt Nam nữa!

Theo báo Thanh Niên ở Sài Gòn tại công trường nhà máy đạm thuộc dự án khí-điện-đạm Cà Mau có những công nhân Trung Quốc sang làm những “công việc thủ công” như “khiêng gạch, bẻ sắt” với tiền công mỗi ngày khoảng 100 nghìn đồng; mà không hề tìm thuê người Việt Nam nào vào làm.

Ðây là một chiến lược tấn công ba mặt, tài chánh, kỹ thuật và nhân dụng, mặt nào Trung Quốc cũng có lợi. Các công ty kỹ thuật Trung Quốc có thể “hiến giá” chấp nhận lấy giá rẻ hơn các công ty quốc tế khác. Vì trình độ kỹ thuật của họ thấp hơn, phẩm chất các máy móc của họ cũng thấp hơn. Và tất nhiên, lương các chuyên viên và nhân công của họ cũng thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế!

Những ngân hàng và công ty kỹ thuật của Âu Châu, Ấn Ðộ hay Hàn Quốc, họ không có chính sách pha lẫn lợi ích kinh tế với mục tiêu chính trị, sẽ không thể cung cấp những “gói hàng” đủ mặt với giá thấp như vậy, tự nhiên bị gạt bỏ ra ngoài cuộc cạnh tranh! Các công ty Trung Quốc đang làm nhà máy điện khắp nước Việt Nam, từ Kontum, Quảng Ngãi, cho tới Sơn Tây. Trong cuộc gọi thầu làm nhà máy điện ở Cao Ngạn, chỉ có bốn công ty Trung Quốc tham dự; sau cùng công ty HPE của Trung Quốc đã trúng thầu! Từ năm 2003, công ty Ðông Phương đã phụ trách xây dựng các nhà máy điện ở Dak Mi, A Lưới, An Khê-Ka Nak, Bản Ve và Sông Ba Ha. Công ty Sơn Ðông của Trung Quốc không cần tranh thầu với ai trong dự án nhà máy điện Cẩm Phả 2, vì chính quyền Việt Nam được lệnh riêng của chính ông Nguyễn Tấn Dũng phải cho họ trúng thầu theo thủ tục đặc biệt, “vì lý do nhu cầu cấp bách!” Không biết ông Nguyễn Tấn Dũng có được lợi ích nào khi ra lệnh như vậy hay không.

Nhưng trong các cuộc trao đổi ba mặt như vậy, thì Việt Nam bị thiệt hại gì không? Thiệt hại trước tiên là Việt Nam phải chấp nhận những sản phẩm kỹ thuật với phẩm chất thấp hơn. Thiệt hại thứ hai là phải chấp nhận cho công nhân nước khác vào làm việc trong nước mình trong lúc nạn thất nghiệp trong nước mình cũng rất cao.

Trong khi đó, nhiều người Việt có trách nhiệm than nhà thầu Trung Quốc đã dùng các thiết bị phẩm chất kém tiến trình dự án bị chậm trễ khiến cho chi phí sau cùng lại cao hơn! Hầu hết các dự án bị kéo dài một tới hai năm, vì nhà thầu Trung Quốc không có kinh nghiệm. Họ chỉ quen với các tiêu chuẩn thô sơ và thấp ở các vùng quê Trung Quốc; chưa từng làm việc ở nước ngoài. Họ sử dụng thị trường Việt Nam như một nơi thí nghiệm khả năng của các kỹ sư và công nhân của họ trước khi bước vào thị trường thế giới! Khi một dự án bị trì hoãn thì tất nhiên Việt Nam sẽ phải vay thêm tiền của ngân hàng Trung Quốc, và phải trả tiền lãi nhiều hơn. Công việc trì hoãn cũng tăng thêm chi phí trả cho các kỹ sư làm công việc thiết kế lại! Giáo sư Bùi Huy Phương, thuộc Viện Khoa Học Ðiện Lực, đã cảnh cáo mối rủi ro về an toàn năng lượng khi để cho các công ty Trung Quốc gần như chiếm độc quyền trong việc xây dựng mạng lưới điện lực khắp nước Việt Nam! Khi so sánh hai nhà máy điện, một ở Na Dương sử dụng các kỹ thuật của Nhật Bản và các nước Tây phương, hai là ở Cao Ngạn dùng kỹ thuật Tàu, thiết bị Tàu, thì các chuyên gia đã thấy hiệu năng ở Cam Ngạn rất thấp so với Na Dương, và đã trục trặc nhiều lần.

Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, ngày 16 tháng 6 năm 2011 trên 90% gói thầu thuộc lĩnh vực khác nhau rơi vào tay Trung Quốc, thì việc “ngành năng lượng điện tại Việt Nam ngày một phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không có gì làm lạ”. Phụ thuộc nghĩa là thế nào? Liệu có lúc nào các nhà máy điện do Trung Quốc xây có thể cùng ngưng chạy một lúc hay không? Chuyện rất khó xảy ra. Nhưng nếu người ta cố ý thì chuyện gì cũng có thể làm được cả!

Câu hỏi là nước Việt Nam có thể thản nhiên để cho một ngành quan trọng như điện lực trở thành phụ thuộc vào Trung Quốc hay không? Xem ra thì hiện nay người Việt Nam rất quan tâm đến những hòn đảo đã bị mất và có thể sắp mất ở Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng ít người để ý đến một cuộc xâm lấn kinh tế. Cuộc xâm lăng này lại được nhiều đồng lõa làm nội ứng. Cuộc xâm lăng nhẹ nhàng, chậm chạp mà chắc chắn; nếu không ngăn ngừa ngay thì sau này cũng rất khó tháo gỡ.

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: Người Việt online