Bài ca Trường Nguyễn Văn Trỗi

Nhạc và lời: Hồng Tuyến

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Quyền biểu tình của công dân








Hoàng
Xuân Phú
GS - TSKH
Kẻ
đúng thì rụt rè, do dự, vì e là phạm luật.
Người
sai lại năng nổ, thẳng tay, bởi tin rằng có lý.
Biểu
tình là một hoạt động hợp hiến và hết sức thông
thường ở xã hội văn minh. Nhưng đến nay, biểu tình
(ngoài sắp đặt của cơ quan Nhà nước) vẫn còn là một
chuyện tương đối xa lạ ở Việt Nam, thậm chí như một
điều „phạm húy“. Biểu tình bị ngăn cản, dù có
diễn ra thì người ta vẫn quanh co, không dám gọi đúng
tên. Đa số người dân nhìn nhận quyền biểu tình như
một thứ xa xỉ phẩm, không liên quan đến cuộc sống
của mình, thậm chí còn nhìn nó như một miếng mồi nhử
nguy hiểm: Ừ thì Hiến pháp cho phép đấy, nhưng cứ thử
động vào mà xem... Vốn dĩ thuộc phạm trù đối nội,
quyền biểu tình được nêu trong Hiến pháp trên thực tế
chỉ còn để đối ngoại.
Cản
trở đối với quyền biểu tình của công dân không chỉ
xuất phát từ ý muốn được „yên ổn“ của những
người cầm quyền, mà còn bị ảnh hưởng nhiều bởi sự
nhầm lẫn về mặt lô-gíc: Cả hai phía đều coi việc
chưa có Luật biểu tình chính là nguyên nhân khiến quyền
biểu tình chưa được hay chưa thể thực thi.
Phía
người dân tưởng là khi chưa có Luật biểu tình thì
không được biểu tình, nên đa số những người muốn
bày tỏ chính kiến... vẫn im lặng. Ngay cả những người
đã can đảm xuống đường vẫn cảm thấy chưa yên tâm,
lo là hành động của mình có gì đó không ổn về mặt
pháp luật, nên mới đề nghị Quốc hội sớm ban hành
Luật biểu tình.

Phía
chính quyền thì coi các cuộc biểu tình không do họ hoặc
các cơ quan Nhà nước tổ chức là bất hợp pháp, là cố
tình gây rối, thậm chí là do các thế lực thù địch tổ
chức hoặc kích động, nên nếu có biểu tình thì chính
quyền có quyền giải tán, có quyền bắt bớ... Có lẽ
cũng do tin rằng chưa có Luật biểu tình thì không được
biểu tình, nên một số người muốn trì hoãn việc ban
hành Luật biểu tình, vì nếu có luật thì dù quy định
ngặt nghèo đến đâu đi nữa, vẫn còn lại những quyền
tự do tối thiểu, và không phải ai cũng muốn chấp nhận
những quyền tối thiểu ấy của người dân.

Câu
hỏi đặt ra là: Nên hiểu quyền biểu tình và mối quan
hệ của nó với Luật biểu tình như thế nào cho đúng?


Quyền
biểu tình trong Hiến pháp hiện hành

sở pháp lý để đánh giá về tính hợp pháp của hoạt
động biểu tình là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
. Điều 69 của Hiến pháp
hiện hành quy định:

Công
dân
có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền
được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu
tình theo quy định của pháp luật
.“
Mệnh
đề „theo quy định của pháp luật“ khiến người dân
lúng túng, do dự khi thực hiện quyền biểu tình, và bộ
máy chính quyền dựa vào đó để phủ nhận quyền biểu
tình của công dân trên thực tế. Thật ra, từ „pháp
luật
“ xuất hiện 60 lần trong Hiến pháp 1992, nhiều khi
chỉ là một phạm trù chung chung, không ám chỉ một luật
cụ thể nào. Phải hiểu „theo quy định của pháp luật
hay „trong khuôn khổ pháp luật“ là tuân theo những quy
định thuộc về pháp luật – nếu đã có. Chưa có luật
tương ứng thì có nghĩa là chưa có hạn chế
, bởi không
thể dùng cái chưa có để hạn chế thực tại. Sau khi
Hiến pháp có hiệu lực, thì còn thiếu rất nhiều luật,
và đến bây giờ vẫn còn thiếu, nhưng mọi tư duy lành
mạnh đều hiểu rằng: Không thể bắt cuộc sống dừng
lại, để đợi đến khi cơ quan lập pháp ban hành đủ
luật
.
Hiến
pháp 1992 viết công dân có quyền biểu tình „theo quy
định của pháp luật
“, chứ không đòi hỏi cụ thể là
theo quy định của Luật biểu tình“. Giả sử, nếu
Hiến pháp quy định là công dân chỉ có quyền biểu tình
theo quy định của Luật biểu tình, thì công dân có quyền
chất vấn và phê phán Quốc hội: Tại sao mấy chục năm
rồi mà vẫn chưa ban hành Luật biểu tình? Lúc đó nhân
dân nhắc nhở và đòi hỏi Quốc hội phải ban hành Luật
biểu tình, chứ không phải chỉ đề nghị, kêu gọi, hay
xin xỏ, vì:
Nhân
dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân, là những cơ quan đại diện cho
ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra
và chịu trách nhiệm trước nhân dân
.“

(Điều
6, Hiến pháp 1992)
Công
dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội,
...“
(Điều
53, Hiến pháp 1992)
Như
vậy, khi không (hoặc chưa) có luật nào quy định cụ thể
hơn về việc biểu tình, thì có nghĩa là pháp luật không
(hoặc chưa) có hạn chế nào cả, và công dân hoàn toàn
có quyền biểu tình, như Hiến pháp cho phép
.
Quyền
hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với
quyền biểu tình
Nếu
Quốc hội muốn định hướng hay hạn chế hoạt động
biểu tình của công dân trong một khuôn khổ nào đó, thì
phải ban hành luật tương ứng. Nếu thấy cần kíp phải
có luật để điều tiết hoạt động biểu tình, thì
chính Quốc hội và các cơ quan giúp việc phải khẩn
trương, chứ dân không phải sốt ruột xin Quốc hội ban
hành. Cơ quan quản lý Nhà nước mới phải vội, chứ dân
không cần vội. Việc một số công dân đề nghị Quốc
hội sớm ban hành Luật biểu tình là một yêu cầu hoàn
toàn chính đáng, nhưng điều đó lại góp phần làm cho
người dân tiếp tục hiểu sai về quyền cơ bản của
công dân, và làm cho những người thuộc cơ quan hành
chính Nhà nước thêm ngộ nhận về quyền hạn của họ
.
Nếu
Chính phủ muốn quản lý hoạt động biểu tình của công
dân theo một hướng nào đó thì Chính phủ phải soạn
thảo và trình dự án luật (Điều 87, Hiến pháp 1992), để
Quốc hội xem xét và ban hành luật, chứ Chính phủ không
thể tự tiện đưa ra những quy định hay triển khai những
hành động can thiệp trái với Hiến pháp
. Hiến pháp 1992
đã quy định rõ:
Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập
pháp

(Điều
83, Hiến pháp 1992)


Chính phủ là „cơ quan chấp hành của Quốc hội“ (Điều
109, Hiến pháp 1992). Điều 115 của Hiến pháp 1992 cho
phép
Chính
phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ
ra quyết định, chỉ thị
nhưng
phải
Căn
cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội,
pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.“
Trong
tất cả 11 khoản của Điều 112, quy định về nhiệm vụ
và quyền hạn của Chính chủ, và cả 6 khoản của Điều
114, quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ
tướng Chính chủ, Hiến pháp 1992 không có bất cứ khoản
nào cho phép Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ ban hành
văn bản pháp quy để hạn chế hay can thiệp vào quyền
tự do của công dân được Hiến pháp đảm bảo
.

Trong
Luật Tổ chức Chính phủ do Quốc hội khóa X thông qua
ngày 25 tháng 12 năm 2001, Điều 8, quy định về nhiệm vụ
và quyền hạn của Chính phủ, được viết lại gần như
nguyên văn Điều 112 của Hiến pháp 1992. Điều 20, quy
định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng
Chính phủ, là cụ thể hóa Điều 114 của Hiến pháp
1992. Quyền tự do của công dân được nhắc 3 lần trong
Luật Tổ chức Chính phủ, trong đó chỉ khẳng định
trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo vệ quyền của
công dân và tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền
của mình, cụ thể là:
Thi
hành những biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng
quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình..
.“
(Điều
8, Khoản 5)
Quyết
định những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử
dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình..
.“
(Điều
18, Khoản 3)
Thực
hiện chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào
của công dân..
.“
(Điều
13, Khoản 4)
 Nghĩa
là: Luật Tổ chức Chính phủ cũng không cho phép Chính
phủ ban hành văn bản pháp quy để hạn chế quyền tự
do của công dân được Hiến pháp đảm bảo. Tất nhiên
là phải như vậy, vì Luật Tổ chức Chính phủ không thể
có những quy định trái với Hiến pháp.
Nghị
định của Chính phủ số 38/2005/NĐ-CP, do nguyên Thủ
tướng Phan Văn Khải ký ngày 18/3/2005, quy định một số
biện pháp đảm bảo trật tự công cộng, không đề cập
đến khái niệm „biểu tình“ được nêu trong Hiến
pháp 1992. Ngược lại, khái niệm „tập trung đông người
được đề cập (21 lần) trong Nghị định số
38/2005/NĐ-CP không xuất hiện trong Hiến pháp 1992. Nghị
định số 38/2005/NĐ-CP cũng không đưa ra định nghĩa hay
giải thích về thuật ngữ „tập trung đông người“,
không hề quy ước là „biểu tình“ thuộc phạm trù
tập trung đông người“. Tất nhiên, không thể tùy ý
dùng thuật ngữ „tập trung đông người“ để chỉ
hoạt động „biểu tình“ (cũng giống như không thể
dùng thuật ngữ „tập trung 500 người“ để chỉ phiên
họp Quốc hội), vì nếu như thế thì vừa thiếu tôn
trọng công dân (hay thiếu tôn trọng Quốc hội), vừa
thiếu tôn trọng Hiến pháp, bởi không được tùy tiện
thay đổi thuật ngữ pháp lý cơ bản được sử dụng
trong Hiến pháp và được dùng phổ biến trong thông lệ
pháp lý trên toàn thế giới. Vì vậy, nếu hợp hiến,
thì Nghị định số 38/2005/NĐ-CP cũng không chi phối quyền
biểu tình của công dân được Hiến pháp đảm bảo
.
Điều
50 của Hiến pháp 1992 khẳng định:


nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và
xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công
dân và được quy định trong Hiến pháp và luật
.“

Khi
thực hiện các quyền con người (trong đó có quyền biểu
tình), công dân chỉ phải tuân theo các quy định của
Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Khi chưa có luật
tương ứng thì công dân không phải chấp hành văn bản
pháp quy nào khác ngoài Hiến pháp, bởi công dân chỉ phải
sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật“ (Điều
31, Hiến pháp 1992). Quyền biểu tình của công dân không
phải chịu chi phối bởi các quy định nào đó, cho dù
chúng có thể được đưa vào luật trong tương lai, lại
càng không thể bị cản trở bởi các quy định tùy tiện
của các cấp chính quyền, của bộ máy công an, của tổ
dân phố, hay của một cấp trên chung chung nào đó. Cho dù
là ai, to nhỏ ra sao, nhân danh tổ chức nào, thì họ cũng
đều là công dân Việt Nam và cũng không nằm ngoài phạm
vi chi phối của nguyên tắc:

Mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật
.“

(Điều
52, Hiến pháp 1992)
Không
phải bất cứ một quy định phi lý nào được đưa vào
luật cũng là thiêng liêng, bất di – bất dịch. Nếu có
Luật biểu tình thì nó không thể chứa đựng những quy
định trái với Hiến pháp. Nhân dân có quyền kiến nghị
và Quốc hội có trách nhiệm hủy bỏ bất cứ quy định
pháp luật nào trái với Hiến pháp, vì

Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật
cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mọi
văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp
.“

(Điều
146, Hiến pháp 1992)
Biểu
tình – Quyền hiến định có hiệu lực cùng Hiến pháp
hiện hành
Đã
đến lúc dân ta (cả dân thường và cả những người
đang thuộc bộ máy quản lý Nhà nước) phải chia tay với
lối tư duy sai lầm là „trên“ cho làm gì thì „dưới“
mới được làm cái ấy, vì đấy là kiểu quan hệ giữa
chủ nô và nô lệ, hoàn toàn trái với bản năng sống
chủ động của mọi loài động vật tự do, trong đó có
con người. Dù có muốn, dù có cố, thì cũng không bao giờ
quy định được hết mọi chuyện trên đời. Hơn nữa,
càng có nhiều quy định thì càng có nhiều điều bất
hợp lý và càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa các quy
định. 
Chính vì vậy, người dân có quyền làm bất cứ
điều gì mà pháp luật không cấm và không vi phạm những
chuẩn mực đạo đức thông thường đã được xã hội
thừa nhận
. Nhà nước có thể thông qua việc ban hành
luật để hạn chế những mặt tiêu cực, nhưng sẽ không
bao giờ khống chế được hoàn toàn. Không thể tiếp tục
luận tội theo kiểu „lợi dụng sơ hở của pháp
luật...
“ Lập luận ấy không chỉ sai với thông lệ
quốc tế, mà còn hài hước ở chỗ: Sao không trách phạt
những người ăn lương của dân rồi làm ra luật... sơ
hở, mà lại chỉ kết tội người dân áp dụng đúng
luật sơ hở?
Căn
cứ vào Hiến pháp và các văn bản pháp lý liên quan, với
tư duy lô-gíc, chỉ có thể rút ra kết luận rằng: Quyền
biểu tình của công dân được Hiến pháp hiện hành đảm
bảo và có hiệu lực cùng lúc với Hiến pháp
. Cho đến
nay, chưa có luật hay văn bản pháp lý hợp hiến nào hạn
chế quyền biểu tình của công dân. Vì vậy, công dân
hoàn toàn có quyền tự do biểu tình, theo đúng tinh thần
của Hiến pháp, không phải đợi đến lúc có Luật biểu
tình hay một văn bản tương tự.
Biểu
tình là biện pháp hữu hiệu để nhân dân bảo vệ quyền
lợi chính đáng của mình và giải tỏa ức chế. Biểu
tình cũng là một hình thức hợp lý để công dân bày tỏ
chính kiến, góp phần xây dựng Nhà nước và thúc đẩy
sự tiến bộ của xã hội.
Trách
nhiệm của các cơ quan Nhà nước là phải tôn trọng và
bảo vệ công dân thực hiện quyền biểu tình, phải
triệt để tuân theo Điều 12 của Hiến pháp 1992:
Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các
cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,
đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm
chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và
pháp luật.
Mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều
bị xử lý theo pháp luật.
Cách
ứng xử với quyền biểu tình của công dân phản ánh
mức độ tôn trọng nhân dân, tôn trọng Hiến pháp và
trình độ hiểu biết pháp luật. Nó cũng thể hiện bản
lĩnh lãnh đạo, mức tự tin vào sự trong sạch và chính
nghĩa của bản thân. Một chính quyền vì dân, chỉ làm
chuyện đúng, chắc chắn sẽ được đa số nhân dân tin
yêu và bảo vệ, không việc gì phải sợ biểu tình. Nếu
đi ngược lại lợi ích của nhân dân và dân tộc, làm
những chuyện sai trái, thì không bạo lực nào có thể
che chở vĩnh viễn.
Nếu
thực sự cầu thị và muốn làm tròn bổn phận, lãnh đạo
phải biết tận dụng hoạt động biểu tình như một
chiếc cầu nối với nhân dân, làm nguồn cung cấp thông
tin thực tế từ cơ sở, vốn dĩ hay bị bưng bít bởi bộ
máy quản lý cấp dưới. Biểu tình là một phương tiện
đắc lực để khắc phục tệ quan liêu – căn bệnh cố
hữu của bộ máy chính quyền.
Chẳng
có lý do chính đáng nào có thể biện hộ cho việc xâm
phạm quyền biểu tình của công dân. Không thể cấm dân
lên tiếng nhằm che dấu sự yếu kém. Không thể mượn
cớ ổn định mà cản trở sự phát triển. Không được
nhân danh bảo vệ chế độ để bảo vệ tham nhũng.

Xương
máu của hàng triệu người Việt đã đổ xuống vì độc
lập và tự do. Độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi
gắn liền với tự do của nhân dân. Nếu dân không có tự
do thì chính quyền mang quốc tịch nào cũng vậy. Do đó,
muốn bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ,
thì phải tôn trọng các quyền tự do của nhân dân, trong
đó có quyền biểu tình. Không thể khác!
Phụ
lục (Dành riêng cho những người kiên định...)
Nếu
quý vị nào vẫn cảm thấy chưa đủ thuyết phục và vẫn
kiên định lập trường cho rằng công dân phải đợi đến
khi có Luật biểu tình mới được biểu tình, thì xin
dành riêng đoạn tiếp theo để quý vị suy ngẫm.
Hiến
pháp 1992 có năm lần nhắc đến từ „Đảng“, trong đó
có ba lần ở „Lời nói đầu“, hai lần đề cập đến
lịch sử và công lao của Đảng CSVN, lần thứ ba trong
câu:
Hiến
pháp này... thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh
đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý
.“
Hai
lần còn lại là ở Điều 4, nguyên văn như sau:
Đảng
cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc,
theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi
tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật
.“
Như
vậy, mặc dù Hiến pháp 1992 khẳng định „Mọi tổ chức
của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật
“, nhưng trong toàn bộ văn bản Hiến pháp không có
quy định cụ thể nào về khuôn khổ mà Đảng CSVN được
phép hoạt động, và cho đến nay vẫn chưa có „Luật về
Đảng
“ (hay tương tự) để quy định về quyền hạn,
trách nhiệm, phạm vi và hình thức hoạt động của Đảng,
cũng như hình thức xử lý khi tổ chức Đảng vi phạm
Hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng, xét về lô-gíc, tính
hợp pháp của việc „Công dân... biểu tình theo quy định
của pháp luật
“ khi chưa có Luật biểu tình không hề
yếu hơn so với tính hợp pháp của việc „Mọi tổ chức
của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp
luật
“ khi chưa có „Luật về Đảng“. Vậy thì quý vị
có cho là Đảng CSVN phải... đợi đến khi có „Luật về
Đảng
“ hay không?
Nếu
ý vừa rồi vẫn chưa đủ, thì xin quý vị lưu ý thêm:
Hiến pháp 1992 không đề cập đến chuyện ăn, chuyện
ngủ... Việt Nam cũng không có luật về ăn, ngủ... Vậy
mà hàng ngày 90 triệu người Việt vẫn ăn, vẫn ngủ...,
dù biết là phải „sống... theo Hiến pháp và pháp luật
(Điều 31, Hiến pháp 1992). Phải chăng, quý vị cũng coi
đấy là hành vi cố tình vi phạm kỷ cương, coi thường
phép nước? Vấn đề này có vẻ còn nghiêm trọng hơn cả
chuyện biểu tình, vì quyền biểu tình của công dân còn
được Hiến pháp ghi nhận đích danh. Vậy thì quý vị có
định đòi hỏi mọi người cũng phải nhịn ăn, nhịn
ngủ... cho đến khi có luật và được luật cho phép,
giống như phải nhịn biểu tình hay không?
9/8/2011
Giáo
sư Tiến sỹ khoa học HOÀNG XUÂN PHÚ (ảnh: NXD)
Viện
Toán học, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam,

Viện
sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Heidelberg

Viện
sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Bavaria 
Nguồn:  NXD Blog

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét